Gốc > BÀI VIẾT > VIỆT NAM > 54 DÂN TỘC > Dân tộc Chứt >

Chuyện về tộc người A Rem giữa đại ngàn Trường Sơn

Nằm giữa lòng di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẽ Bàng, ngôi làng của người A Rem lọt thỏm trong dãy núi Trường Sơn hùng vĩ. Hơn 50 năm kể từ ngày bước ra từ hang đá người A Rem đã có những đổi thay đáng kể để hòa nhập với cuộc sống hiện đại.

 
Tộc người bước ra từ hang đá
 
Để vào được bản A Rem xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, từ con đường Hồ Chí Minh nhánh đông chúng tôi rẽ vào con đường 20 Quyết thắng huyền thoại. Từ cửa động Phong Nha lên bản A Rem chỉ dài 39 km nhưng chiếc xe ô tô của đoàn chúng tôi phải “bò” mất nguyên nửa ngày. Con đường 20 Quyết thắng oanh liệt trong chiến tranh giờ đây là cầu nối duy nhất giúp bà con ở hai xã Tân Trạch và Thượng Trạch của huyện Bố Trạch hòa nhịp với hơi thở cuộc sống miền xuôi. 
 
 
Con đường vào bản A Rem lầy lội rất khó đi. Ảnh: Xuân Nha
Con đường vào bản A Rem lầy lội rất khó đi. Ảnh: Xuân Nha

Con đường được xây dựng từ trong chiến tranh, đến thời bình không được tu sửa nhiều nên đã xuống cấp nghiêm trọng. Những con dốc dựng đứng lởm chởm đá chạy quanh bên những vực sâu làm cho những tay lái quen với đường nhựa phẳng phiu phải rợn gai ốc. Chiếc U Oát cứ chồm lên như một con ngựa bất kham lắc điên đảo. Đôi khi nó khựng lại vì bánh xe xoay tròn giữa vũng bùn nhớp nháp. Có đoạn, cả đoàn phải xuống xe phụ với anh tài xế ném cành cây vào bánh để giúp chiếc xe qua khỏi vũng sình. 

 
Trở về quá khứ, năm 1956, trong một chuyến tuần tra, bộ đội biên phòng phát hiện ra tộc người A Rem sống trong những hang đá giữa núi rừng Phong Nha-Kẻ Bàng. Năm đó tộc người này chỉ vẻn vẹn được 18 nhân khẩu. Sau đó ít lâu, tộc người này tăng thêm được 110 người. Rồi chiến tranh, dịch bệnh, đói kém liên miên, đến khoảng năm 1982-1983, huyện Bố Trạch huy động các xã trong huyện trợ giúp cho A rem làm nhà, cung cấp màn chiếu, bò giống để chăn nuôi. Địa điểm định cư lúc đó ở km 12 cũng trên tuyến đường này. Đến thời điểm đó, tộc người A rem chỉ còn đúng 85 người. 
 
Họ ở trên bản mới này chỉ được chừng 4 năm rồi lại tìm về các hang Va, hang Tho Đũa truyền thống của mình. Đến đầu năm 1992, tộc người A rem được Nhà nước hỗ trợ theo dự án Bảo tồn và phát triển những tộc người có nguy cơ biến mất. Lúc này người A rem chỉ còn lại 83 người...
 
 
Những con người bước ra từ hang đá nay đã có cuộc sống định cư. Ảnh: Xuân Nha
Những con người bước ra từ hang đá nay đã có cuộc sống định cư. Ảnh: Xuân Nha

Bản 39 này được coi là nơi người A rem bám trụ lâu nhất trong lịch sử định canh, định cư của mình. Cuộc sống định cư với một tộc người hoang dã không phải là dễ, với bao biến cố thăng trầm, có lúc tưởng như người A rem lại quay trở vào hang khi vùng đất này kiệt nước, người ta phải đào những cái hố sâu nhảy nằm xuống đó như thời kỳ ở hang, với hy vọng chống chọi qua mùa nắng dữ... Rồi những thời kỳ cam go cũng qua và người A rem bám trụ ở bản 39 này cho đến tận bây giờ.

 
Hiện tại, dân số của người A Rem trên toàn xã Tân Trạch gồm 75 hộ, 333 khẩu, trong đó có 6 hộ ở bản Đoòng, cách trung tâm xã chừng 20 cây số đường rừng. Năm 2004, cảm thông với những khó khăn của đồng bào A Rem, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh vận động quyên góp được trên 1 tỷ đồng để xây tặng 42 căn nhà kiên cố giúp đồng bào. Tỉnh tiếp tục đầu tư trường học, trạm xá, trụ sở UBND xã, đường giao thông... từ đây tại Km 39 đã thành hình hài của một bản dân tộc kiểu mẫu.
 
 
Những đứa trẻ A Rem đang được học chữ này là niềm hi vọng của bản làng trong việc thu hẹp khoảng cách với miền xuôi. Ảnh: Xuân Nha
Những đứa trẻ A Rem đang được học chữ này là niềm hi vọng của bản làng trong việc thu hẹp khoảng cách với miền xuôi. Ảnh: Xuân Nha

Tuy được quan tâm nhiều từ các cấp chính quyền, song cuộc sống của người A Rem vẫn chưa hết khó khăn. Cái đói, cái khát vẫn luôn rình rập họ. Đinh Lầu Chủ tịch xã Tân Trạch trải lòng với chúng tôi "Bà con mình còn vất vả nhiều lắm, hành trình đổi đời gian nan, làm gì để cái bụng không đói còn gian nan hơn. Giờ tất cả đều trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước".  Đúng, Bà con A Rem trong chờ vào sự bao cấp của Nhà nước. Nghĩ ra thì cho là họ không có chí tự thân vận động nhưng nghĩ lại thì điều đó cũng phải. Định cư ngay giữa vùng lõi di sản, thiếu đất sản xuất, thiếu nước tưới tiêu, sinh hoạt hàng ngày. Tập quán canh tác dựa hoàn toàn vào rừng nhưng giờ rừng đã là của di sản. Đồng bào biết rằng phá rừng sẽ vi phạm pháp luật, nhưng nếu không bám vào rừng thì họ lại phải đối mặt với cái đói. 

 
Chủ tịch Đinh Lầu khoe rằng "Mấy năm nay, bản A Rem nhận chăm sóc và bảo vệ rừng được trên 1.000 ha; mỗi quý toàn bản nhận 25 triệu đồng, xã dùng nguồn này mua gạo hỗ trợ cho dân bản”. Hai mươi lăm triệu dù là số tiền không lớn nhưng đối với xã mà tỷ lệ hộ nghèo dường như còn 100% như Tân Trạch thì đến ngày giáp hạt từng đó cũng đủ để bà con cảm thấy ấm cái bụng phần nào.
 
Ngoài cái đói thì bà con A Rem còn phải chịu đựng sự thiếu nước trong mùa khô. Nước sinh hoạt của bà con hầu hết được lấy từ suối nhỏ và các vũng nước tù đọng và nước mưa. 
 
Nhọc nhằn con chữ
 
 
Để gieo con chữ cho các em các thầy giáo phải vượt một quảng đường khó khăn. Ảnh: Xuân Nha
Để gieo con chữ cho các em các thầy giáo phải vượt một quảng đường khó khăn. Ảnh: Xuân Nha

Bước ra từ hang đá, muốn để bà con A Rem tiến kịp với miền xuôi ngoài việc lo cái ăn cái mặc thì cho bà con cái chữ là việc làm cần thiết. Tuy nhiên đã quen với cuộc sống hoang dại như cây cỏ mọc trên rừng không chịu sự uốn nắn của bàn tay con người nên việc bắt các con em A Rem học chữ là một việc rất khó, cần đến sự kiên trì và cái tâm của mỗi giáo viên nơi đây. 

 
Hiện tại ở xã Tân trạch có 2 trường là trường Tiểu học và THCS Tân Trạch với 25 cán bộ, giáo viên, phần lớn ở dưới xuôi lên. Một tuần thay nhau về nhà một lần. Tổng số học sinh gồm 43 em TH; 29 em THCS. Điểm trường bản Đoòng cách trường trung tâm 20 cây số, chỉ có 5 học sinh nhưng thầy giáo Phó hiệu trưởng Trần Hải Nam cùng thầy Hoàng Văn Sáu về bám bản, bám dân để dạy học. Các giáo viên nam cứ thay nhau về cắm bản ở Đoòng, luân chuyển hai năm một lần.
 
Chuyện dạy và học ở Trường TH và THCS Tân Trạch cũng rất lạ so với nhiều bản làng khác mà chúng tôi đã đặt chân đến. Nghe mà nao nao lòng. Vốn thời gian biểu được chia ra: khối THCS học buổi sáng; khối TH học buổi chiều. Rạch ròi thế nhưng học sinh lại hay quên... ngồi nhầm lớp là chuyện thường. Không đâu như ở Tân Trạch, muốn học sinh đến trường bảo đảm sĩ số, đầu buổi học phải huy động tất cả giáo viên, cán bộ xã đến từng nhà gọi... Duy trì sĩ số đầu giờ học, đến giờ ra chơi, lũ trẻ chạy về nhà tranh thủ kiếm cái gì đó cho vào bụng. Ăn xong không còn nhớ mình đang đi học, chúng khoác gùi lên vai, vơ lấy con dao... hồn nhiên theo bố mẹ lên rừng, lên rẫy.
 
Khó khăn là thế nhưng các thầy vẫn nặng lòng để gánh con chữ đến với con em nơi đây. Cuộc sống nơi rừng thiêng nước lạ không làm giảm đi lòng nhiệt huyết của các thầy. có nhiều thầy đã bám trụ với mãnh đất này lâu như Hoàng Văn Sáu đã tròn 11 năm; thầy Nguyễn Xuân Vũ 8 năm; Nguyễn Văn Đạt và Nguyễn Thành Phương 6 năm... có 8 giáo viên nữ; 1/3 trong số họ là giáo viên trẻ. “Từ miền xuôi lên, gắn chặt với sự nghiệp trồng người sâu giữa đại ngàn, dù có muôn vàn khó khăn nhưng ước mơ, hoài bão vẫn cháy bỏng trong tâm mỗi người” thầy giáo Nguyễn Thành Phương tâm sự.
 
Xuân Nha

Nhắn tin cho tác giả
Trịnh Thị Kim Loan @ 11:13 13/06/2015
Số lượt xem: 278
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến