Gốc > BÀI VIẾT > TIỀN GIANG > Bài viết >

THỦ KHOA HUÂN

 

1. TIỂU SỬ:

 Thủ Khoa Huân tên thật là Nguyễn Hữu Huân, sinh năm Canh Dần 1830, tại làng Tịnh Hà, tổng Thanh Quơn, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường . Nay là xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo con Nguyễn Hữu Cẩm, tục gọi là Cả Cẩm - một nông dân khá giả trong vùng.

 Thủ Khoa Huân thuở nhỏ ông nổi tiếng thông minh, khí khái, học rất giỏi và chăm chỉ học tập. Năm Giáp Tý 1852 - dưới triều Tự Đức, ông dự thi Hương (kỳ thi xác định học vị Cử nhân) tại Gia Định đậu thủ khoa (đứng đầu cử nhân) nên được gọi là Thủ Khoa Huân. Sau đó, ông được làm giáo th (tức đốc học) ở huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường.

2. QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG:

 Khi Pháp xâm lược ba tinh miền Đông Nam kỳ (trong đó có tỉnh Định Tường quê ông), Nguyễn Hữu Huân cũng giống như nhiều nhà nho yêu nước ở Nam kỳ, ông đã từ bỏ dạy học, từ biệt gia đình liên kết các sĩ phu yêu nước, chiêu mộ nghĩa binh cầm vũ khí đứng lên chống Pháp (năm 1860)

Năm 1861, ông cùng nghĩa quân hoạt động trên địa bàn từ Tân An đến Mỹ Tho.

Đầu năm 1862 bị giặc Pháp đánh úp, ông bị giặc bắt giải về Sài Gòn. Pháp giao ông cho Đỗ Hữu Phương ( Tổng Đốc Phương ) - đầu sỏ việt gian mua chuộc, ông từ chối. Lựa lúc đối phương sơ hở, ông trốn thoát được và khôn khéo tìm cách trở lại hoạt động - liên kết với Trương Định

Đầu năm sau, ông cùng Võ Duy Dương chiêu mộ nghĩa binh để khởi nghĩa lần thứ hai.

Tháng 6 năm 1863, giặc phát hiện căn cứ của ông ở Thuộc Nhiêu ( Cai Lậy)  nên lúc ban đêm Pháp bất ngờ đem quân càn quét căn cứ Thuộc Nhiêu (Cai Lậy , Định Tường), ông chuyển về vùng Thất Sơn, An Giang ông và Thiên Hộ Dương chạy thoát về vùng Thất Sơn, An Giang xây dựng căn cứ Bảy Núi tiếp tục đấu tranh. Pháp rất lo ngại nên dựa dẫm vào điều ước Nhâm Tuất, Pháp gửi tối hậu thư  buộc quan tỉnh An Giang giao nộp Thủ Khoa Huân và Thiên Hộ Dương cho họ làm tội, viện lẽ ông Huân không tuân theo hòa ước 1862. Biết tin Thiên Hộ Dương trốn thoát . Án sát Phạm Hoàng Đạo hay tin tâu lên vua Tự Đức, xin đưa ngay Nguyễn Hữu Huân về Huế. Nhưng khi chiếu chỉ đến, viên quan đầu tỉnh bị Pháp gây áp lực nên đã phớt lờ lệnh vua, khiến ông bị Pháp giam cầm.

Vợ Thủ Khoa Huân là Lê Thị Lộc đã làm đơn kiện viên quan đầu tỉnh An Giang về việc đã không tuân theo chiếu chỉ, đồng thời đòi Pháp phải thả ngay chồng mình. Ở Sài Gòn, dù Pháp đem mọi thứ ra dụ dỗ nhưng ông vẫn kiên quyết chối từ. Cuối cùng, vào ngày 22 tháng 8 năm 1864, Pháp khép ông vào tội chống lại nhà nước Lang Sa (Pháp), phản đối hiệp ước mà triều đình đã ký, kết án 10 năm khổ sai và bị đày đi đảo Cayenne ở Nam Mỹ

Về sự việc này, Định Tường Thủ Khoa Huân tiểu truyện có đoạn: Năm Giáp Tý, chính quyền Pháp kết án Nguyễn Hữu Huân

mười năm khổ sai, đày ra biển cả ở Nam Mỹ châu, tục gọi Cai Danh (tức Cayenne, thuộc Guyane). Trong Hồ sơ cá nhân Đỗ Hữu Phương cũng cho biết tương tự: Thủ Khoa Huân, dính líu trong một vụ phiến loạn, từng bị đày đi Cayenne

Sau 5 năm tù, ngày 4 tháng 2 năm 1869, Pháp cho lệnh ân xá và đưa ông về quản thúc tại nhà Tổng đốc Đỗ Hữu Phương, đồng thời cử ông làm giáo thọ dạy bảo "sinh đồ" ở Chợ Lớn với hy vọng lôi kéo ông về phía họ. Ông lợi dụng điều kiện đi dạy học liên lạc với các sĩ phu yêu nước và Hội Kín Hoa kiều "Trường Phát" nhờ mua vũ khí chuẩn bị khởi nghĩa. Trong khi cuộc khởi nghĩa đang được chuẩn bị khẩn trương thì bị giặc Pháp nhờ do thám đã bắt được thuyền chở vũ khí. Trước tình hình đó ông ra lệnh bãi binh, bí mật tìm đường trở về Mỹ Tho họp cùng Âu Dương Lân tiến hành khởi nghĩa lần thứ 3. Trung tâm ngay vùng Bến Tranh, đã gây tiếng vang toàn cõi Nam Kỳ. Lần này dân chúng theo ông rất đông,trong số đó có cả một số hương chức, hội tề, địa chủ... địa bàn kháng chiến của ông kéo dài từ Mỹ Tho đến Mỹ Quý -Cai Lậy.

Đầu năm 1875, thất trận ở Bình Cách, Thủ Khoa cùng tùy tùng là Đốc binh Hương về Chợ Gạo, dự định quá giang thuyền buôn ra Bình Thuận cầu viện. Nhưng đốc binh Hương bị Trần Bá Lộc mua chuộc, đã dẫn quân bắt Nguyễn Hữu Huân ở Chợ Gạo ngày 15 tháng 05 năm 1875, rồi đem giam ông tại Mỹ Tho.

Sau bốn ngày dùng mọi mưu chước chiêu hàng không thành, Pháp kết án tử hình Nguyễn Hữu Huân. Trước khi thụ hình, ông nhắn vợ con tế sống mình trong một tuần và xin vải viết bài thơ tuyệt mệnh và hai câu đối để thờ.
Ngày 19 tháng 5 năm 1875 (âm lịch: 14 tháng 4 năm Ất Hợi), Pháp cho tàu chở ông xuôi theo dòng Bảo Định về Mỹ Tịnh An, để hành quyết tại Bến Tranh lúc 12 giờ trưa. Năm ấy ông 45 tuổi.

Ngày 19 tháng 5 năm 1875 chúng cho tàu chở ông theo dòng Bảo Định về quê Mỹ Tịnh An để hành quyết (12 giờ trưa). Năm ấy ông 45 tuổi.

 Trái ngược hẳn chiến lược "Hòa" thực chất là đầu hàng nhục nhã của triều đình Nhà Nguyễn, suốt 15 năm hoạt động, 3 lần khởi nghĩa – 3 lần bị giặc bắt, trên chiến trường cũng như trong tù ngục của kẻ thù, cho đến lúc bị giặc xử trảm, Thủ Khoa Huân không bao giờ ngừng chiến đấu và không bao giờ quên nêu tấm gương "Tận Trung Báo Quốc" và "Đạo Cương Thường" vì nước vì dân

3. TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VỀ CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA THỦ KHOA  HUÂN

1. Thủ Khoa Huân ba lần khởi binh đánh Pháp. Lai lịch, cuộc đời Ông từng được sử gia phong kiến ghi chép trong Đại Nam liệt truyện. Tuy nhiên, có những thời khắc, sự kiện mà chính sử không hề biết đến. Truyền thuyết kể rằng, khi nghe tin Thủ Khoa Huân bị giặc bắt, dân chúng Tân An và Mỹ Tho, không được ai huy động, đột nhiên kéo nhau băng đồng về chợ Mỹ Tho. Mỗi người đội trên đầu một tờ giấy bạch không có viết chữ, gọi là “trạng bạch”, đòi Pháp trả tự do cho Cụ. Tất nhiên, Pháp không chấp nhận đòi hỏi ấy. Truyền thuyết còn kể, sau khi an táng Thủ Khoa Huân, người dân Mỹ Tịnh An xây đền thờ đối mặt với đồn Cây Da của giặc, như muốn thể hiện thái độ bất khuất của mình. Bất ngờ, trận bão năm Thìn (1904) từ Gò Công kéo đến xô ngã cây Da. Người dân ở đây giải thích đó là “binh tướng của Trương Định hiệp cùng nghĩa quân của Thủ Khoa Huân theo ngọn bão mà đánh sập đồn Tây”.

Đặc biệt, thời khắc hy sinh dũng liệt của Thủ Khoa Huân đã được truyền thuyết tô đậm. Trước khi xử chém, bọn giặc bưng tới một mâm cơm đầy rượu thịt cho ông ăn. Ông lạnh lùng đá đổ mâm cơm. Kẻ được giao chém đầu ông vốn là người địa phương nhưng theo giặc. Lệnh chém ban ra, nhưng hắn lộ vẻ sợ hãi, chần chờ, không dám quơ đao. Ông nhìn hắn và nói:

  Nhà ngươi có bổn phận, cứ việc thi hành, đừng để liên lụy đến mình!
              Nghe vậy, tên đao phủ mới dám ra tay. Vừa chém xong, hắn liền quỳ sụp xuống, lạy ông bốn lạy.

Xử án xong, bọn giặc để gia đình ông đem phần thân về, còn đầu thì bêu tại chỗ, ra lịnh sau ba ngày mới được đem về an táng.

Nhưng tới năm giờ chiều, một người con gái của ông mặc áo dài, đến chỗ hành quyết để thăm chừng đầu cha. Không ngờ, một tên Pháp đã lấy đầu ông, thảy trả cho cô. Cô vội vàng dùng hai tay nâng vạt áo dài, hứng đầu cha mình và đưa về nhà. Nhờ vậy, gia đình đã an táng được đầy đủ thân thể ông. 
          Chừng ấy tình tiết lạ, tuy còn ít ỏi, nhưng đã góp phần nào “chất thơ và mộng”’ cho đoạn cuối đầy bi tráng của vị anh hùng.

 2. Kế tiếp hình tượng Thủ Khoa Huân là những cộng sự đắc lực của ông - những anh hùng quần chúng. Truyền thuyết kể về Sáu Hải, người có “bộ mặt rất dữ, mắt lớn, lông mày rậm, râu quai nón, thân hình to lớn lực lưỡng, lưng và tay đầy những sẹo”. Anh là dân vùng khác đến xin ngụ cư ở xóm Chợ Giữa, xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Anh nói năng khiêm tốn, chăm chỉ làm ăn, nhưng lai lịch, hành động hơi kỳ bí. Giữa nhà, anh chỉ thờ hai chữ “Quan Lớn”, ngày ngày đốt nhang, vái lạy kính cẩn. Đặc biệt, anh có một báu vật bất ly thân: cái mõ gỗ lên nước đen bóng. Quanh năm, lúc nào anh cũng đeo cái mõ ấy bên vai. Thì ra, anh vốn là một tướng cướp hoàn lương. Được Thủ Khoa Huân cảm hóa, anh trở thành người lính mõ trung thành đến chết.

Trước khi nhắm mắt, Sáu Hải gọi vợ con đến bên giường, bảo đem cái mõ đặt vào khay để lên bàn thờ “Quan Lớn”, rồi dặn rằng:

            - Ta vừa chợp mắt, thấy quan lớn Thủ Khoa Huân cho lính đem trát hỏa tốc về gọi, nên ta phải thu xếp đi ngay. Đó là cái mõ của quan lớn giao cho ta khi trước, để mỗi khi hữu sự thì sai ta đánh lên báo hiệu lệnh. Sau khi ta nhắm mắt, cứ mỗi lần cúng giỗ, chỉ cần đánh một hồi mõ, cũng đủ làm cho hồn ta dưới suối vàng mãn nguyện lắm.

Ông còn nghiêm nghị dặn các con:

- Ta cấm chúng bây không đứa nào được làm việc cho Tây! Nếu không nghe lời, ta sẽ thưa với quan lớn, xin phép về vặn họng cho chết!

3. Truyền thuyết còn kể về Lê Huy Nhạc – nhân vật bắt rắn thuộc loại kỳ tài, vang danh khắp vùng Đồng Tháp. Gốc gác của ông ở đâu, không ai biết. Ông đến và đi lúc nào, ít ai hay. Chỉ biết ông là khắc tinh của các loài rắn độc. Chỗ nào có rắn dữ hại người, chỗ đó có ông xuất hiện. Ông được mệnh danh là Ông thầy Rắn. Mọi người hình dung về ông trong tư thế oai phong, lẫm liệt: “người cao lớn, vạm vỡ chạy như bay, đuổi theo một con rắn khổng lồ (…) Người nọ và rắn quần nhau dữ dội. Rắn đuối sức dần. Người nọ chân đè mạnh lên khúc đuôi, một tay nắm chặt cổ rắn, còn tay kia mổ bụng giết rắn”.

Sau nhiều phen cứu người, Thầy Rắn bỗng đi đâu mất. Về sau, người ta mới biết ông trở về quê ở Chợ Gạo (Tiền Giang) rồi theo cụ Thủ Khoa Huân chống Pháp. Cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân thất bại. Ông Nhạc trở lại Đồng Tháp Mười ẩn náu và mất tại đó.

4. Truyền thuyết cũng kể về ông Đồ Phú Kiết. Ông vốn là nhà nho, người miền Trung, đến dạy học và cưới vợ tại chợ Thang Trông, thuộc làng Phú Kiết (nay thuộc Chợ Gạo, Tiền Giang). Lúc này, nghĩa quân Trương Định thất trận ở Đám lá tối trời, còn Thủ Khoa Huân và tri huyện Âu Dương Lân đang hồi khởi nghĩa.

          Khi đem lính đến đóng tại đây để đàn áp, bắt bớ những người yêu nước, tên Việt gian Trần Bá Lộc kịp biết ông Đồ Phú Kiết là người hay chữ. Hắn mời ông ra giúp việc văn phòng và rất tin dùng. Ông Đồ nhận làm thư ký cho tên Việt gian chẳng qua để làm tay trong cho anh em nghĩa dõng bí mật liên lạc với Thủ Khoa Huân ở Tịnh Hà và Huyện Lân ở Thang Trông. Chính ông đã giúp nhiều nghĩa quân đỡ khổ khi bị giam cầm. Thủ Khoa Huân và Âu Dương Lân nhiều phen thoát vòng vây của giặc, phần lớn cũng nhờ công thầm lặng của ông. Sau ông về thăm quê, nhưng kỳ thực, ông đi góp sức chống Tây ở Hồ Tràm, Thị Vải (tỉnh Đồng Nai bây giờ). Và Ông đã tử trận nơi đây.

Tóm lại, nếu trong chính sử, Thủ Khoa Huân chỉ là một tên tuổi được triều Nguyễn ghi công thì trong truyền thuyết, Ông đã là hình tượng nghệ thuật đầy hấp dẫn: một thầy giáo - nhà thơ yêu nước; một lãnh tụ kiên trì kháng Pháp; một nhân cách cứng cỏi, kiên cường,… Con người ấy khiến đao phủ kinh hoàng; nhân dân kính yêu, che chở; con cháu tôn thờ, tưởng nhớ …

               So với Thủ Khoa Huân, các nhân vật cộng sự của Ông luôn được bao bọc trong màn sương huyền ảo: xuất thân không rõ, hành tung kỳ lạ, chiến tích khác thường… Họ chính là những anh hùng quần chúng, lớn lên từ cuộc sống lam lũ của nhân dân. Chính sử không biết đến họ. Nhưng nhân dân đã tạc nên những tượng đài riêng về họ. Họ là đại diện cho mọi thành phần nhân dân, cùng tề tựu dưới ngọn cờ khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân - một thầy giáo - nhà thơ yêu nước.

 4. TÁC PHẨM

Không rõ Thủ Khoa Huân có làm nhiều thơ không, nhưng chỉ bấy nhiêu bài còn lại sau đây, bài nào cũng bộc lộ được tinh thần bất khuất, kiên cường, dám xả thân vì nước Việt của ông.

Cho nên, Nguyễn Hữu Huân được ghi nhận là "một hiện tượng đặc sắc của văn học yêu nước thế kỷ 19 của Việt Nam: hiện tượng nhà thơ - chiến sĩ."

Bài thơ chữ Hán dưới đây, ông làm trước khi bị chém, nay được tạc nơi bia mộ ông. Sau đây là bản dịch của Phan Bội Châu:

Ruổi dong vó ngựa trả thù chung
Binh bại cho nên mạng phải cùng.

Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ,

Hơn thua xá kể với anh hùng.

Nổi xung mất vía quân Hồ lỗ

Quyết thác không hàng, rạng núi sông.

Tho thuỷ ngày rày pha máu đỏ,

Đảo Rồng hiu hắt ngọn thu phong.

Và:


Hai bên thiên hạ thấy hay không ?

Một gánh cương thường, há phải gông.

Oằn oại hai vai quân tử trúc,

Long lay một cổ trượng phu tòng.

Sống về đất Bắc, danh còn rạng

Thác ở thành Nam, tiếng bỏ không

Thắng bại, doanh thâu trời khiến chịu

“Phản thần”,“đéo ỏa” đứa cười ông!


            Bài thơ ông làm nghe tin vợ dám đi kiện quan đầu tỉnh An Giang, và đòi Pháp thả chồng
:

Xem qua thư gửi rất kinh hoàng

Nhi nữ chà chà cũng lớn gan

Đơn bẩm cuối lòn loài bạch quỷ,

Sân quỳ vất vả phận hồng nhan

Bán mình đâu nệ phiền lòng sắt,

Chuộc tội thà xin trọn nghĩa vàng

Tiết khí dưới trần coi ít mặt,

Cang thường càng chuộng gánh giang san.


Ông làm trước khi bị đày ra đảo Cayenne ở Nam Mỹ
:

Muôn việc cho hay số bởi trời

Chiếc thân chìm nổi biết bao nơi

Mấy hồi tên đạn ra tay thử,

Ngàn dặm non sông dạo gót chơi.

Chén rượu Tân đình nào luận tiệc

Vần thơ cố quốc chẳng ra lời.

Cương thường bởi biết mang nên nặng,

Hễ đứng làm trai trả nợ đời.


Nhân nhà Tổng đốc Phương có tiệc, ông làm bài này để đọc cho mọi người nghe:

Nghĩ thẹn râu mày với nước non

Nhìn nay tùng, cúc bạn xưa còn.

Miếu đường cách trở niềm tôi chúa,

Gia thất riêng buồn nỗi vợ con.

Áo Hán nhiều phen thay vẻ lạ,

Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon

Giang Đông nổi tiếng nhiều tay giỏi,

Cuốn đất kìa ai, dám hỏi đon!


Qua hình ảnh
cây bắp”, để tỏ bày tấm lòng cùng khát vọng của ông:

Luống chịu ba trăng trấn cõi bờ,

Hiềm vì thương chút chúng dân thơ.

Nương oai tích lịch ôm con đỏ,

Vâng lịnh nam phong phất ngọn cờ.

Miễn đặng an nhà cùng lợi nước

Chỉ nài dãi gió với dầm mưa.

Biển hồ dầu lặng, tằm kình bặt

Giải giáp một phen chúng thảy nhờ.


             Hai câu đối do Nguyễn Hữu Huân làm trước khi bị thụ hình, hiện được treo trang trọng tại bàn thờ của ông.


Hữu chí nan thân, không uổng bách niên chiêu vật nghị,

Tuy công bất tựu, diệc tương nhất tử báo quân ân.

(tạm dịch:
Có chí khôn bày, không uổng trăm năm lời nghị chúng

Tuy công chưa thành, cũng đành một thác báo ơn vua)

5. TƯỞNG NHỚ

Mộ và đền Thủ Khoa Huân được xây dựng ngay tại quê nhà của ông. nằm tại làng Tịnh Hà, tổng Thạch Quơn, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường, nay là ấp Hóa Quới, xã Hào Tịnh, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Mộ cách ủy ban xã Hoà Tịnh 600m về phía Đông Bắc, cách hương lộ 300m về phía Bắc, nằm ở đồng, cách nhà dân 100m. Mộ Thủ khoa Huân có ý nghĩa lịch sử lớn lao, đây là nơi an nghỉ cuối cùng của Phó đề đốc, nhà thơ nhà trí thức yêu nước Thủ khoa Huân. Ban đầu mộ được đấp bằng đất. Đầu thế kỷ 20, cháu ngoại của ông là Trần Văn Thông xây lại bằng đá xanh. Trong đền thờ có nhiều hoành phi và câu đối ca ngợi khí tiết của ông. Và nơi Thủ Khoa Huân bị chém là chợ Phú Kiết, tỉnh Định Tường xưa. Nơi đấy, cũng có bia tưởng niệm.

Vì sự cai trị của kẻ thù xâm lược và bọn phong kiến phản động nên ngôi mộ không nguy nga, lộng lẫy. Tuy đơn giản nhưng nói lên sự tôn kính của nhân dân địa phương đối với vị anh hùng tiền bối của dân tộc.

Mộ thủ khoa Huân lúc đầu chỉ đắp bằng đất, về sau (vào đầu thế kỷ XX) cháu ngoại của ông là Trần Văn Thông xây lại bằng đá xanh, nền mộ không cao, trên bia chia làm 3 phần, phần giữa khắc bài Hãn mã và hai bên hai câu đối. Bài Hãn mã có nội dung như sau (theo bản dịch của Trần Huy Liệu):

Rủi dung xe ngựa báo thù chung

Binh bãi cho nên mạng mới cùng

Tiết nghĩa lân lưu trong vũ trụ

Hơn thua đâu luận với anh hùng

Nổi lung mất vía quân Hồ Lổ

Thà thác không hàng rạng núi sông

Thu thủy ngày nay pha máu đỏ

Cồn Rồng hiu hắt ngọn thu phong.

Và hai câu đối hai bên có nghĩa là:

Có chí cũng khó thâu uổng trăm năm vật đổi dời

Công không thành thì lấy cái chết đền ơn vua.

 Mộ của ông gồm nhiều phiến đá xanh ghép lại, xây bằng xi măng, núm mộ nhô cao như mai rùa, trên trạm hoa văn xoáy trôn ốc. Toàn bộ ngôi mộ được xây trên gò đất cao hơn mặt ruộng 1 mét, cách làng 100 mét về phía Đông. Toàn bộ ngôi mộ chỉ còn 50m2, riêng phần đá chiến 4,20m2.

 Bia của mộ gồm 3 phiến đá xanh ghép với nhau thành chân bia, thân bia và mái bia. Chân bia là một khối đá hình chữ nhật có chạm hoa văn hoa lá, thân bia để viết chữ dày 40cm, cao 72cm, ngang 100cm, mái che bằng đá xanh cao 32cm, ngang 38cm. Mái che giá ngói chia làm 8 rãnh cuối, đầu mỗi rãnh có chạm hoa sen, hai đầu chạm 2 con chim phượng quay đầu vào chầu hoa sen, hai đầu song cửa nóc chạm 2 con dơi quay mặt ra ngoài tư thế đang bay trông rất sống động. Hiện nay Tỉnh ủy và ủy ban đã quy hoạch khu đài kỷ niệm ở nơi ông bị chém và đền thờ ở xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo.

6. PHỐ NGUYỄN HỮU HUÂN Ở HÀ NỘI

Đó là con phố một chiều dài 448 m, kéo từ chỗ gầm cầu vượt nam Chương Dương đến ngã tư Nguyễn Hữu Huân - Lò Sũ - Lý Thái Tổ, cắt qua phố Hàng Mắm và Cầu Gỗ - Hàng Thùng. Phố nằm gọn trên địa phận phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

           Phố được xây trên nền của các thôn cổ của hai tổng là Tả Túc (gồm các thôn Trung Mộc Sà, Trùng Thanh, Sơ Trang, Mỹ Lộc) và Hữu Túc (gồm các thôn Ưu Nhất, Trung Nghĩa, Đông An) thuộc huyện Thọ Xương. Về sau, hai tổng hợp lại thành tổng Phúc Lâm, còn chừa lại hai thôn Trùng Thanh và Trung Mộc Sà thành Thanh Yên.

Thời Pháp thuộc, phố có tên là Rue de la Digue (1900), sau đổi thành là phố Bắc Ninh nhưng người Việt hay gọi phố là phố Bè Thượng. Về sau, phố lại được đổi thành Rue Marechal Pétain rồi là phố Phan Thanh Giản năm 1947. Năm 1964, phố được đổi tên thành Nguyễn Hữu Huân.

Đầu phố Nguyễn Hữu Huân, gần phố Lương Ngọc Quyến trước kia có ngã năm Cột Đồng Hồ và bến xe.

( Nguồn : Tổng hợp )


Nhắn tin cho tác giả
Trịnh Thị Kim Loan @ 16:43 06/03/2017
Số lượt xem: 429
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến