Gốc > BÀI VIẾT > TIỀN GIANG > Bài viết >

NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU

Vua Bảo Đại có giải thích về hai chữ Nam Phương như sau: "Tôi đã chọn tên trị vì cho bà Hoàng Hậu mới là Nam Phương. Nam Phương có nghĩa là hương thơm của miền Nam (Parfume du Sud) và tôi cũng ra một chỉ dụ đặc biệt cho phép bà được phục sức màu vàng – màu dành riêng cho Hoàng Đế".

Nam Phương Hoàng Hậu - vợ vua Bảo Đại. Bà là vị hoàng hậu duy nhất được phong khi còn sống của nhà Nguyễn, cũng là hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam

Tên thật : Nguyễn Hữu Thị Lan

Sinh ngày : 4 tháng 12 năm 1914 tại Gò Công – Tiền Giang

Mất : 14 tháng 9 năm 1963 tại Corre2ze - Limousin – Pháp

Tôn giáo : Thiên Chúa giáo

Chồng : Vua Bảo Đại

Tại điện Kiến Trung, Hoàng hậu Nam Phương cùng Vua Bảo Đại có tất cả 5 người con:

1. Thái tử Bảo Long sinh ngày 4 tháng 1 năm 1936

2. Công chúa Phương Mai, sinh ngày 1 tháng 8 năm 1937

3. Công chúa Phương Liên, sinh ngày 3 tháng 11 năm 1938

4. Công chúa Phương Dung, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1942

5. Hoàng tử Bảo Thắng, sinh ngày 9 tháng 12 năm 1943

 1. Xuất thân:

Bà khuê danh là Nguyễn Hữu Thị Lan, sinh ngày 4 tháng 12, 1914 tại Gò Công Nam Phần, xuất thân trong một gia đình Thiên Chúa giáo giàu có bậc nhất miền Nam thời bấy giờ, do đó bà còn có tên thánh là Marie Thérèse. Bà là con gái của đại điền chủ Nguyễn Hữu Hào và bà Lê Thị Bính; và là cháu ngoại của ông Lê Phát Đạt, tức Huyện Sỹ - một trong bốn người giàu nhất nước Việt Nam những năm đầu của thế kỷ 20, một gia đình theo đạo Thiên Chúa, quốc tịch Pháp. Lê Phát Đạt là người bỏ tiền xây dựng Nhà Thờ ở đường Bùi Chu cũ, hiện nay là nhà thờ Huyện Sỹ, đường Tôn Thất Tùng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và nhà thờ Hạnh Thông Tây ở Gò Vấp. (và nhà thờ Chí Hòa đường CMT8 - Q. Tân Bình được xây dựng với số tiền dư khi xây dựng xong nhà thờ Huyện Sỹ)

2. Cuộc gặp gỡ trên chuyến tàu về quê

 Vĩnh Thụy (sinh năm 1913) còn được gọi là Prince Vĩnh Thụy khi mới 8 tuổi đã trở thành Đông cung Hoàng thái tử, được Pasquier (nhiều năm làm Khâm sứ Trung Kỳ và Toàn quyền Đông Dương) đưa về Paris , giao cho Charles nuôi dưỡng. Sau 11 năm du học bên Pháp, Vĩnh Thụy trở lại quê nhà (trên chuyến tàu thủy chở khách bình thường) lên ngôi Hoàng đế Bảo Đại, ở tuổi 19. Vợ chồng Charles cũng về theo.

Trên chuyến tàu này, có một nữ khách người Việt, cô Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan xinh đẹp, năm ấy vừa tròn 18 tuổi.

Năm 1926 , Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan, khi đó 12 tuổi, được gia đình cho sang Pháp học tại trường Couvent des Oiseaux, một trường nữ danh tiếng ở Paris do các nữ tu điều hành. Tháng 9 năm 1932, sau khi thi đậu Tú tài, Nguyễn Hữu Thị Lan về nước trên con tàu D’Artagnan của hãng Messagerie Maritime. Và đó cũng là lần đầu cô trông thấy Vĩnh Thụy ở phòng ăn trên tàu.

 Trước đó, Nguyễn Vĩnh Thụy (tên khai sinh của vua Bảo Đại) cũng đã được đưa sang Pháp đào tạo “nghề làm vua”. Đến tuổi trưởng thành cũng lại do chính người Pháp sắp xếp, chắp mối tơ duyên. Thời điểm này, con gái đẹp, hiền thục, thông minh học giỏi, ở kinh đô Huế không thiếu, nhưng hầu hết theo đạo Phật, coi vua như Ông trời, bảo sao nghe vậy không dám phản đối.

Có lẽ vì lý do ấy mà Khâm sứ Charles, người được Nhà nước Pháp giao trọng trách nuôi dưỡng, đào tạo Bảo Đại thành ông vua để cai quản Việt Nam phục vụ cho mẫu quốc, đã nghĩ đến một cô gái người Nam Kỳ. Nhìn đi tính lại ông ta thấy có cô Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan đang học trường Couvent des Oiseaux ở Paris là xứng đáng lên ngôi Hoàng hậu hơn cả.

Theo khâm sứ Charles, cô Lan là người vừa xinh đẹp, duyên dáng, lại nết na, con nhà giầu, lại theo đạo dòng, đã vào làng Tây lại học xong bậc tú tài và như vậy sẽ hội đủ điều kiện trở thành Hoàng hậu, có thể giúp vua Bảo Đại “trị vì xứ An Nam”.

Một năm sau khi về nước, dưới sự đạo diễn của người Pháp, theo kế hoạch Toàn quyền Pasquier và Khâm sứ Charles khuyên Hoàng đế đi nghỉ Đà Lạt “phục hồi ngọc thể”. Họ bố trí cho Vĩnh Thụy và Toàn quyền Pasquier đến nghỉ mát ở núi Lâm Viên Đà Lạt tại khách sạn Palace (sau gọi là khách sạn Langbian). Darles, đốc lý, được giao nhiệm vụ tổ chức một buổi tiệc trà với lý do họp mặt giữa người Pháp và một số thân hào nổi tiếng ở miền Nam đang làm ăn tại cao nguyên này.

 3. Cuộc gán ghép định mệnh:

Từ nhỏ Nguyễn Hữu Thị Lan đã được người cậu ruột là ông Denis Lê Phát An nuôi dưỡng và cho sang Pháp học. Sử sách còn ghi nhận rằng Denis An là một trong số người giầu nhất xứ Nam Kỳ thời ấy. Là người giầu có, đang rất cần tiếng tăm, lại không có con, nên Denis An đã bằng mọi cách để cô cháu gái xinh đẹp Marie Thérèse Thị Lan tiếp cận vua Bảo Đại.

Ông hy vọng cô cháu gái trở thành Hoàng hậu thì ông không những sẽ nhanh chóng leo lên trên các bậc thang danh vọng, mà còn có cơ hội phất lên trong làm ăn. Từ đó, Denis An quyết tâm nhờ vả viên Toàn quyền Pháp Pasquier và Khâm sứ Charles tạo mọi điều kiện để cô cháu gái tiếp cận vua Bảo Đại.

Hai mẹ con cô Lan và cậu cô Lan là ông Denis Lê Phát An, từ Sài Gòn lên đây nghỉ mát từ vài hôm trước, cũng được gửi thiếp mời tới dự tiệc trà. Nể lời cậu, cô Lan đi dự nhưng không trang điểm, chỉ mặc áo dài bằng lụa đen mua bên Pháp. Trong buổi tiệc ấy, khi ông Darles đưa “ông cậu và cô cháu gái” đến giới thiệu, Hoàng đế đã bị chinh phục, nhìn cô không chớp mắt thế là Nguyễn Hữu Thị Lan đã chiếm gọn trái tim của một người có địa vị cao nhất nước.

Từ đó  Thị Lan và Bảo Đại lại có dịp sóng đôi hết ngày này qua ngày khác, lúc thì ở sân quần vợt, lúc trong rừng săn bắn, lúc bên bàn tiệc hay dạ hội
Vị Hoàng đế trẻ, đàn hay, khiêu vũ đẹp, bắn súng giỏi, chơi quần vợt khó ai thắng, ăn nói lịch thiệp, ứng xử nhã nhặn khiến cô Lan không thể không chấp nhận tình yêu với Bảo Đại. Còn nhớ hồi đó phóng viên một tờ báo Sài Gòn có phỏng vấn Nam Phương, bà trả lời “Cuộc hôn nhân giữa tôi với Hoàng thượng là một sự tình cờ. Chúng tôi gặp nhau trong một buổi dạ hội tại Đà Lạt năm 1933. Lúc đó tôi mới 18 tuổi, tôi không để ý gì đến Hoàng đế, nhưng Hoàng đế đã chú ý đến tôi...”.  

Sau chuyến nghỉ mát, Vĩnh Thụy trở lại Huế bẩm với bà Hoàng Thái hậu từ cung Hoàng Thị Cúc về chuyện gặp cô Lan và những dự định sẽ làm. Bà Cúc tỏ ra lo lắng, nét mặt u buồn, bởi cô Lan đi đạo, lớn lên ở châu Âu, không phải sống trong khuôn phép lễ giáo Việt Nam. Lại còn chuyện giáo dục con cái về tôn giáo, khi chúng lớn lên, được phong Hoàng Thái tử thì làm sao cử hành được việc thờ cúng liệt thánh hay lễ tế đàn Nam Giao? Không phải chỉ trong hoàng tộc và đình thần, cả trong dân chúng đều lo lắng, bàn tán xôn xao.

 4. Cuộc hôn nhân bất chấp sự phản đối

Nguyễn Hữu Thị Lan là người nổi tiếng xinh đẹp, từng ba năm liền đạt giải hoa hậu Đông Dương, nhưng bà mang quốc tịch Pháp và theo Thiên Chúa giáo. Vì vậy cuộc hôn nhân giữa Bảo Đại và Nguyễn Hữu Thị Lan gặp phải rất nhiều phản đối. Trước Hoàng Tộc, Bảo Đại đã nói: “Trẫm cưới vợ cho trẫm đâu phải cưới cho cụ Tôn Thất Hân và Triều đình.”

Vĩnh Thụy vẫn bất chấp mọi sự can ngăn , đám cưới của vị thiếu quân hào hoa với một nữ lưu tràn trề hương sắc miền Nam đã được tổ chức ngày 20 tháng 3 năm 1934 ở Huế, trước sự hiện diện của đình thần và đại diện nước Pháp, tại điện Cần Chánh. Triều đình đứng thành hàng dọc theo tấm thảm hai màu vàng, đỏ dành riêng cho hoàng đế. Nguyễn Hữu Thị Lan mặc áo thụng, chân đi hài mũi cong, đầu đội vương miện đính 9 con phượng bằng vàng thật và nhiều ngọc châu óng ánh. Bà đi đến giữa tấm thảm, cả triều đình vái chào. Với một vẻ đẹp lộng lẫy, bà đi thẳng vào phòng lớn giữa lúc nhà vua đang ngồi trên ngai thấp ở đó. Hôn lễ ngắn gọn, đơn giản. Hoàng đế và Hoàng hậu sánh vai bước đi trong tiếng nhạc mừng qua Tử Cấm Thành vào điện Kiến Trung, nơi ở và làm việc chính.

Lần đầu tiên trong lịch sử nhà Nguyễn, có một phụ nữ xuất hiện giữa triều đình. Khi đó Bảo Đại đúng 21 tuổi, còn Nguyễn Hữu Thị Lan 19 tuổi.

Mặc dù là Hoàng đế, nhưng Bảo Đại được hấp thụ văn hoá Phương Tây, đã bãi bỏ chế độ cung tần mỹ nữ ở hoàng cung, theo lối sống gia đình truyền thống của đạo Thiên chúa - một vợ một chồng.

Bảo Đại say mê Nguyễn Hữu Thị Lan, ông viết trong hồi ký “Con Rồng An Nam” rằng “... Sau những cuộc gặp gỡ trên sân quần vợt, những buổi dạ tiệc, dạ vũ tôi có đến thăm M.J. Lan nhiều lần tại ngôi biệt thự sang trọng của gia đình họ Lê ở Đà Lạt. Cô Lan là một cô gái có một vẻ đẹp thuỳ mị của người con gái miền Nam, hiền lành và quyến rũ làm tôi say mê, vì vậy tôi ngỏ ý xin cưới M.J Lan và được gia đình đồng ý”. 

Và khi Bảo Đại hỏi cưới thì gia đình Nguyễn Hữu Thị Lan ra điều kiện:

1. Nguyễn Hữu Thị Lan phải được tấn phong Hoàng Hậu Chánh Cung ngay trong ngày cưới.

2. Được giữ nguyên đạo Công Giáo, và các con khi sinh ra phải được rửa tội theo luật công giáo và giữ đạo.

3. Riêng Bảo Đại thì vẫn giữ đạo cũ là Phật giáo.

4. Phải được Tòa thánh La Mã cho phép đặc biệt hai người lấy nhau và giữ hai tôn giáo khác nhau

Ngay trong ngày cưới, lễ tấn phong Hoàng Hậu được diễn ra rất trọng thể ở điện Dưỡng Tâm. Nhà vua phong Hoàng Hậu tước vị Nam Phương Hoàng Hậu. Sự kiện Nguyễn Hữu Thị Lan được tấn phong Hoàng hậu ngay sau khi cưới là một biệt lệ đối với các vợ vua triều Nguyễn. Vì mười hai đời vua Nguyễn trước, các bà vợ vua chỉ được phong tước Vương phi, đến khi chết mới được truy phong Hoàng hậu.

Về cuộc tình duyên đó, Bảo Đại có viết trong cuốn Con rồng An Nam:

“Sau lần hội ngộ đầu tiên ấy, thỉnh thoảng chúng tôi lại gặp nhau để trao đổi tâm tình. Marie Thérèse thường nhắc đến những kỷ niệm ở trường Couvent des Oiseaux một cách thích thú. Cũng như tôi, Marie Thérèse rất thích thể thao và âm nhạc. Nàng có vẻ đẹp dịu dàng của người miền Nam pha một chút Tây phương. Do vậy mà tôi đã chọn từ kép “Nam Phương” để đặt danh hiệu cho nàng. Các vị Tiên Đế của tôi cũng thường hướng về người đàn bà miền Nam. Nếu tôi nhớ không sai thì trước Hoàng hậu Nam Phương, có đến bảy phụ nữ miền Nam đã từng là chủ nhân của Hoàng thành Huế. Khi chọn phụ nữ miền Nam làm vợ, hình như đức Tiên Đế và tôi đều nghĩ rằng trước kia đức Thế Tổ Cao Hoàng đã được nhân dân miền Nam yểm trợ trong việc khôi phục giang sơn. Chính đó là sự ràng buộc tình cảm giữa Hoàng triều Huế với người dân miền Nam”.

Hoàng hậu Nam Phương cũng nhắc lại:

“Hôm đó ông Darle, Đốc Lý thành phố Đà Lạt gởi giấy mời cậu Lê Phát An tôi và tôi đến dự dạ tiệc ở Hôtel Palace. Tôi không muốn đi nhưng cậu An tôi năn nỉ và hứa với tôi là chỉ đến tham dự một chút và vái chào nhà Vua xong là về nên tôi phải đi một cách miễn cưỡng và tôi cũng chỉ trang điểm sơ sài thôi. Chúng tôi đến trễ nên buổi tiệc đã bắt đầu từ lâu. Cậu tôi kéo ghế định ngồi ngoài hiên thì ông Darle trông thấy, ông ta chạy đến chào chúng tôi rồi nắm tay cậu tôi kéo chúng tôi vô nhà. Vừa đi ông vừa nói: “Ông và cô phải đến bái yết Hoàng thượng mới được”. Khi cánh cửa phòng khách vừa mở, tôi thấy vua Bảo Đại ngồi trên chiếc ghế bành chính giữa nhà. Ông Darle bước tới bên cạnh Vua rồi nghiêng mình cúi chào và kính cẩn nói:

-Votre Majesté, Monsieur Lê Phát An et sa nièce, Mademoiselle Marie Thérèse. (Tâu Hoàng thượng, đây là ông Lê Phát An và người cháu gái, cô Marie Thérèse)

Nhờ các nữ tu ở trường Couvent des Oiseaux từng chỉ dạy nên tôi biết phải làm gì để tỏ lòng tôn kính đối với bậc Quân Vương, vì vậy tôi đã không ngần ngại đến trước mặt Hoàng Đế, quỳ một gối và cúi đầu sát nền nhà cho đến khi thấy bàn tay cậu tôi kéo tôi dậy tôi mới đứng lên. Vua gật đầu chào tôi đúng lúc tiếng nhạc vừa trỗi theo nhịp điệu Tango, Ngài ngỏ lời mời và dìu tôi ra sàn nhảy rồi chúng tôi bắt đầu nói chuyện.

Về sau, khi đã trở thành vợ chồng, Ngài mới cho tôi biết hôm đó Ngài rất chú ý cách phục sức đơn sơ của tôi. Tôi nghĩ rằng tôi được nhà Vua lưu ý một phần do trong suốt buổi dạ tiệc chỉ có tôi là người đàn bà Việt Nam duy nhất nói tiếng Pháp và theo hành lễ đúng cung cách lễ nghi Âu tây đối với Ngài”.

Sau lễ cưới, vua Bảo Đại cùng hoàng hậu Nam Phương dọn về ở tại điện Kiến Trung thuộc khu vực cấm thành. Điện này xây cất từ thời vua Khải Định nhưng được sửa chữa và tân trang các tiện nghi Tây phương vào đầu triều vua Bảo Đại.

 

 Bảo Đại rất yêu thương Nam Phương, Điều đó xem ra thật đúng bởi Nam Phương là người phụ nữ sang trọng, nhưng không kiêu, có nụ cười kín đáo và không e lệ, lại rất nhạy cảm với thời cuộc. Những năm bà còn chưa bận bịu con cái, Bảo Đại đi đâu cũng sóng bước cùng Nam Phương, nhiều khi ông còn tự tay lái xe đưa bà đi thăm các danh lam thắng cảnh của đất nước.

Đêm ngày 4 tháng 1 năm 1936, người dân Huế nghe những tiếng súng bắn mừng báo tin Nam Phương đã hạ sanh, và lờ mờ sáng lại một lần nữa 7 tiếng súng thần công làm lay động cả Hoàng Thành, báo hiệu Hoàng hậu Nam Phương đã sinh một hoàng tử. Người đó chính là Đông cung Thái tử Bảo Long. Đến năm 1937 sinh Công chúa Phương Mai, năm 1938 sinh Công chúa Phương Liên, năm 1942 sinh Công chúa Phương Dung, bà không còn muốn đi chơi, mà dành mọi thời gian chăm sóc nuôi dạy con cái. Đến năm 1943 bà sinh thêm một hoàng tử nữa, đặt tên là Bảo Thắng

Khi đó công việc hàng ngày của hoàng hậu Nam Phương là quản trị nội cung, dạy dỗ các hoàng tử, công chúa. Thỉnh thoảng bà phải cùng các quan ở Bộ Lễ bàn thảo các lễ lạt trong cung đình, lo việc cúng giỗ các Tiên đế và đi vấn an sức khỏe các bà Tiên cung và Hoàng thái hậu Từ Cung, tức mẹ vua Bảo Đại, bà rất chu toàn bổn phận làm dâu

Hoàng hậu Nam Phương còn tham gia các việc xã hội và từ thiện. Như đi thăm trường nữ Trung học Đồng Khánh ở đường Jules Ferry (tức Lê Lợi sau nầy), bà thường tiếp xúc với các Giáo sư, nhắc nhở họ cố gắng làm tròn thiên chức của một nhà mô phạm, đi thăm Nữ Công Học Hội ở đường Khải Định (tức đường Nguyển Huệ ngày nay).

Hàng năm bà đều tham dự các buổi phát giải thưởng cho các học sinh giỏi tổ chức tại trung tâm Accueil gần nhà dòng Cứu Thế. Theo lời nữ sĩ Đạm Phương sau nầy kể lại thì có lần Hoàng hậu Nam Phương bảo bà làm đơn xin phép Bộ Giáo Dục đem môn nữ công gia chánh vào học đường. Hàng năm bà đều tham dự các buổi phát giải thưởng cho các học sinh giỏi tổ chức tại trung tâm Accueil gần nhà dòng Cứu Thế.

Ngày nay, không ai còn lạ lùng khi trông thấy quý vị đệ nhất phu nhân xuất hiện nơi công cộng để giúp chồng trong việc ngoại giao, nhưng cách đây sáu mươi năm, Hoàng hậu Nam Phương giúp vua Bảo Đại trong việc tiếp kiến các nhà ngoại giao là một điều hiếm có.

 Vào thời đó, nhiều người ở kinh đô Huế đều biết trong những lần vua Bảo Đại tiếp đón các quốc khách như Thống Chế Tưởng Giới Thạch của Đài Loan, Quốc Vương Soupha Vangvong Lào quốc hoặc Quốc vương Sihanouk của Cao Mên v.v … đều có sự hiện diện của hoàng hậu Nam Phương. Lần vua Bảo Đại tự mình lái xe hơi đi thăm Nam Vang cũng có mặt Hoàng hậu tháp tùng.

 Chi tiết đáng kể nhất là việc Hoàng hậu Nam Phương đã đem lại hòa khí giữa các chức sắc đạo Thiên Chúa ở Việt Nam với Hoàng tộc nhà Nguyễn. Vì như ta đã biết, đạo Thiên Chúa với các vị vua triều Nguyễn vốn có những căng thẳng lịch sử thì Nam Phương hoàng hậu, như một làn gió mát, đã thoa dịu sự căng thẳng lịch sử tưởng chừng như không bao giờ thay đổi.

Nhân đây, tưởng cũng nên nhắc lại một hành động chứng tỏ lòng thiết tha với quê hương đất nước của Hoàng hậu Nam Phương trong tài liệu của sử gia Pháp Jean Renaud do nhà xuất bản Guy Boussac ấn hành năm 1949:
Số là sau khi quân Pháp dựa vào thế lực của quân Anh quốc để gây hấn ở miền Nam với ý đồ tái chiếm thuộc địa Việt Nam. Lúc đó vua Bảo Đại đã từ chức, bà Nam Phương đang ở tại An Định cung bên bờ sông An Cựu. Đau lòng trước thảm cảnh mà đồng bào miền Nam, quê hương của bà đang trực tiếp gánh chịu, cựu Hoàng hậu Nam Phương đã gởi một Thông điệp (Message) cho bạn bè ở Á châu yêu cầu họ lên tiếng tố cáo hành động xâm lăng của thực dân Pháp với lời lẽ như sau:
"Kể từ tháng 3 năm 1945, nước Việt Nam đã thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp nhưng vì lòng tham của một thiểu số thực dân Pháp với sự tiếp tay của quân đội Hoàng gia Anh nên hiện nay máu của nhân dân Việt Nam lại tiếp tục chảy trên mãnh đất vốn đã có quá nhiều đau khổ. Hành động nầy của thực dân Pháp là trái với chủ trương của Đồng Minh mà nước Pháp lại là một thành viên. Vậy tôi tha thiết yêu cầu những ai đã từng đau khổ vì chiến tranh hãy bày tỏ thái độ và hành động để giúp chúng tôi chấm dứt chiến tranh đang ngày đêm tàn phá đất nước tôi.

Thay mặt cho hàng chục triệu phụ nữ Việt Nam, tôi thỉnh cầu tất cả bạn bè của tôi và bạn bè của nước Việt Nam hãy bênh vực cho tự do. Xin các chính phủ của khối tự do sớm can thiệp để kiến tạo một nền hòa bình công minh và chân chính và xin quý vị nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của tất cả đồng bào của chúng tôi".

Ký tên:

Bà Vĩnh Thụy

 (tức Hoàng hậu Nam Phương)

Trong một dịp tiếp xúc riêng tư, một người Việt Nam trong ngành ngoại giao trước năm 1975 hiện ở Pháp nói rằng bức thông điệp trên đây đã được bà Nam Phương gởi đến Tổng Thống Truman của Hiệp Chủng Quốc vào đầu năm 1946 để nhờ can thiệp

Hoàng hậu Nam Phương cũng là người tiêu biểu trong các bà mệnh phụ nhiệt tình với “Tuần lễ Vàng” do Việt Minh phát động tại Huế. Hôm ấy, ngày 17 tháng 9 1945, bà là người đầu tiên đến bên một cái bàn trải khăn đỏ rồi từ từ cởi hết số đồ trang sức bằng vàng đang mang trên người. Sau đó bà được gắn một huy hiệu in cờ đỏ sao vàng

 5. Người chồng bạc nghĩa:

 Nam Phương hoàng hậu là người nhiệt tình ủng hộ việc Bảo Đại đưa Ngô Đình Diệm về nước làm Thủ tướng. Năm 1955, được sự hậu thuẫn của người Mỹ, Ngô Đình Diệm đã tiến hành việc phế truất Bảo Đại và trở thành Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Sự ủng hộ nhiệt tình của Hoàng hậu Nam Phương đã trở thành nỗi thống hận cay đắng. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã tịch biên tài sản, xóa bỏ hết toàn bộ quyền lợi của gia đình cựu hoàng Bảo Đại tại miền Nam Việt Nam.

Cựu hoàng Bảo Đại, với thói quen phung phí, kể từ đó gần như lang thang, sống một cuộc đời không dư dật gì cho lắm. Bà Nam Phương cùng các con cũng định cư hẳn tại Pháp, cho đến tận lúc chết cũng không một lần quay lại quê hương, cũng hầu như chẳng mấy khi liên lạc hay gặp gỡ gì đức lang quân cựu hoàng vốn quá nhiều nỗi đam mê phóng đãng hơn là quan tâm đến danh dự, trách nhiệm và cuộc sống gia đình.

Rất vô trách nhiệm, cựu hoàng Bảo Đại hầu như không đoái hoài gì đến cuộc sống của vợ con mình ở điền trang La Perche. Trong suốt 5 năm, ông chỉ ghé điền trang đúng 3 lần, trong đó có một dịp là đám cưới cô con gái Phương Liên. Cô này kết hôn với Berna Soulain, một thanh niên làm viên chức Ngân hàng Bordeaux. Hai người quen  nhau khi cùng du học tại London, Anh. Đám cưới của họ được tổ chức đầu năm 1962, dưới sự chủ lễ của cha xứ Blanchet và sự xác nhận của Trưởng làng Henri Bosselut – một đảng viên Cộng sản Pháp. Người dân làng Chabrignac có dịp thấy mặt cựu hoàng xứ An Nam khi ông đến dự tiệc cưới trên một chiếc xe dài ngoẵng.

 6. Cuộc sống lưu vong nơi đất khách quê người

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 25 tháng 8, Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh điện cho Bảo Đại yêu cầu ông ban dụ thoái vị. Ngày 30 tháng 8 1945, Bảo Đại thoái vị trong một buổi lễ long trọng ở Ngọ Môn, Huế, trao quốc ấn Hoàng đế Chi Bửu và thanh kiếm bạc nạm ngọc cho đại diện của chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là ông Trần Huy Liệu. Tháng 9 năm 1945, ông ra nhận chức "Cố vấn tối cao" trong chính phủ. Ngày 16 tháng 3 năm 1946, ông tham gia phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang thăm viếng Trung Hoa, nhưng không trở về nước. Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp trở lại chiếm đóng Huế, trong bối cảnh nhà Nguyễn đã suy vong, bà Nam Phương cùng các con sang Pháp sống những năm tháng cuối đời.

Bà chọn Chabrignac, một làng quê trải dài trên vùng đồi có những mái nhà xám. Trên khu đất rộng 160 mẫu, bà xây một biệt thự bằng đá cẩm thạch ở giữa đồi, nuôi một đàn bò sữa ngót trăm con. Giữa đất khách, bà sống ẩn dật trong yên tĩnh với một tài sản chẳng ai bằng. Ngoài 2 chung cư lớn ở Neuilly và đại lộ Opéra (Paris), bà còn sở hữu nhiều nhà đất ở các nước Maroc, Congo, cùng nhiều ngọc ngà, châu báu.

 Dân làng Chabrignac kể rằng, bà Nam Phương giàu có, nhưng sống thiếu hạnh phúc. Bao nhiêu năm chỉ thấy cựu hoàng Bảo Đại về thăm Hoàng hậu mấy lần, lần được nhớ nhất là vào dịp lễ cưới của Phương Liên kết hôn với chàng trai Berna Soulain. Buồn nản vì tình cảm của mình, bà Nam Phương chỉ sống âm thầm trong ngôi nhà vắng vẻ. Họa hoằn bà mới về thăm Paris vài ngày. Có lẽ vui nhất là dịp nghỉ hè, các con mới có dịp về thăm bà.

7. Sự ra đi lặng lẽ:

Ngày 14 tháng 9 năm 1963, vào khoảng 5 giờ chiều, cựu hoàng hậu Nam Phương cảm thấy mệt bèn cho người nhà đi mời Bác sỹ đến thăm mạch. Sau khi chẩn khám, Bác sĩ cho biết bà bị viêm họng nhẹ, chỉ uống thuốc vài hôm là khỏi. Nhưng không dè bác sĩ vừa rời khỏi nhà chừng vài tiếng đồng hồ thì bà cảm thấy khó thở. Người hầu việc vội chạy sang nhờ hàng xóm đi tìm bác sĩ khác ở làng bên, cách mươi cây số, nhưng người Bác sĩ thứ hai chưa đến kịp thì trái tim của cựu Hoàng hậu Nam Phương đã êm ái ngừng đập ngay trong đêm đó khi bà vừa tròn 49 tuổi.
Ngoài hai người giúp việc trong nhà, không có một người ruột thịt nào có mặt bên cạnh bà trong giờ phút lâm chung, vì các con bà đều ở tận Paris để làm việc và đi học.
Đám tang của bà Hoàng hậu Viêt Nam lưu vong được tổ chức một cách sơ sài lặng lẽ như những năm tháng cuối đời của bà. Hôm đưa đám, ngoài hai Hoàng tử và ba Công chúa đi bên cạnh quan tài của mẹ không có một người bà con nào khác. Đến viếng bà là những người có mối quan hệ gần gũi như công chúa Như Lý - con gái Vua Hàm Nghi, và vài viên chức thuở xưa làm việc với cựu hoàng Bảo Đại, về phía quan chức Pháp thì chỉ có ông quan đầu Tỉnh Brive la Gaillarde và ông Xã Trưởng Chabrignac, cùng mấy vị dân biểu. Trong suốt thời gian tang lễ cựu Hoàng Bảo Đại cũng không có mặt, lúc này
Bảo Đại đang sống ở miền Nam nước Pháp.

Báo chí Việt Nam tới hàng chục năm sau vẫn không biết hoàng hậu cuối cùng của triều Nguyễn mất bao giờ.

Đám tang bà hoàng hậu thưa thớt, vắng vẻ, không tiếng khóc than, không lời ai điếu. Nấm mộ đơn sơ đặt trong phần mộ của dòng họ Bá tước De La Besse của nhà thờ ngay tại Chabrignac, cách tỉnh Brive la Gaillarde ba mươi cây số. Ngôi mộ đơn sơ kém cả những ngôi mộ xây đủ hình khối ở ngay bên cạnh với tấm bia đá hai mặt ghi hai hàng chữ bằng hai thứ tiếng khác nhau, mặt trước viết chữ Hán, mặt sau viết chữ Pháp:

 Bia chữ Hán:

ĐẠI NAM NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU CHI MỘ

(Mộ phần của Hoàng hậu Nam Phương nước Đại Nam)

Bia chữ Pháp:

ICI REPOSE L'IMPÉRATRICE D'ANNAM NÉE MARIE THÉRÈSE NGUYEN HUU THI LAN

(Đây là nơi an nghỉ của Hoàng hậu An Nam nhũ danh Maria Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan)

8. Mối quan hệ giữa hai bà Triều Nguyễn: Nam Phương Hoàng Hậu – Công chúa Như Lý

Họ là cái bóng của hai khuynh hướng đối ngược nhau. Công chúa Như Lý là con gái thứ hai của Vua Hàm Nghi -  người được lịch sử khắc tên như một biểu tượng đấu tranh chống Pháp quyết liệt. Ngược lại, Nam Phương Hoàng  hậu là vợ của cựu hoàng Bảo Đại -  đại biểu cuối cùng trong số những ông vua bị xem là bù nhìn, được người Pháp nuôi dưỡng, giáo dục, đặt lên ngai vàng và cuối cùng bị nhân dân phế truất.

Thật oái oăm, về cuối đời, hai người phụ nữ ấy lại trở thành hàng xóm của nhau, trong một vùng quê hẻo lánh miền Tây Nam nước Pháp. Thế nhưng, trong suốt 5 năm làm “hàng xóm”, hai bà hoàng ấy vẫn không một lần gặp mặt thăm viếng nhau.

Rời kinh thành Huế ngày 6/7/1885, Vua Hàm Nghi đã bôn ba khắp các vùng rừng núi từ Tân Sở (Quảng Trị), sang tận châu Mường Mahasay (tỉnh Khăm Muộn, Lào) rồi vòng về Hương Khê (Hà Tĩnh), ban hịch Cần Vương và làm biểu tượng tinh thần cho  phong trào sĩ phu chống Pháp. Tháng 2/1886,  trước khi lên đường sang Trung Quốc cầu viện nhà Thanh, Đại thần Tôn Thất Thuyết đã giao việc hộ giá ông vua trẻ cho hai con trai là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp đảm trách. Tôn Thất Đạm được Vua Hàm Nghi cử làm Khâm sai, chịu trách nhiệm liên lạc với các lực lượng nghĩa quân kháng chiến và huy động lương thực. Tôn Thất Thiệp thì ngày cũng như đêm, luôn có mặt bên cạnh để bảo vệ nhà vua. Khi vua trẻ  dừng chân tại làng Thanh Lạng, Tuyên Hóa, Quảng Bình, đội ngũ hộ giá còn có thêm hai người nữa là Nguyễn Định Trình, người đã theo vua từ năm 1885 và Trương Quang Ngọc, một người địa phương rất giỏi bắn cung, được vua ban chức Lãnh binh.

Không dập tắt được tinh thần đấu tranh chống Pháp của Vua Hàm Nghi, người Pháp đã tìm cách dụ dỗ, mua chuộc những bộ tướng thân tín của ông. Với anh em Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp thì âm mưu này hoàn toàn thất bại. Gần như người Pháp không có con đường nào để có thể tiếp cận, thuyết phục và làm lay chuyển lòng trung quân ái quốc của họ. Nhưng với các cận tướng dưới quyền họ thì âm mưu của Pháp đã thành công. Từ mùa hè năm 1888, lần lượt Nguyễn Định Trình rồi Trương Quang Ngọc và một số người khác đã ra đầu thú, khai báo với Pháp nhiều điều về đường đi nước bước của đoàn hộ giá.

Đêm 1/11/1888, Trương Quang Ngọc và Nguyễn Đình Trình đã dẫn theo khoảng 20 tên phản bội bất ngờ tập kích vào nơi ở của Vua Hàm Nghi. Trương Quang Ngọc đã đâm chết  Thống chế Nguyễn Thùy và con trai ông. Tôn Thất Thiệp cũng bị một tên phản bội khác là Cao Viết Lượng giết chết. Vua Hàm Nghi bị bắt. Trước khi bị giải nộp cho viên Đại úy Pháp Boulangier, Vua Hàm Nghi đã nói với Trương Quang Ngọc: “Ngươi hãy giết ta đi, còn hơn nộp ta cho quân Pháp”. Từ đó, mang thân phận một người chiến bại, nhà vua vẫn thường xuyên tỏ thái độ bất hợp tác với Pháp. Ngày 12/12/1888, ông bị thực dân Pháp đày sang Algérie ở Bắc Phi.

Tại Alger, thủ đô của Algérie, ông hoàng mất ngôi được bố trí sống tại Villa des Pins (Biệt thự Ngàn thông) khá tiện nghi. Cuộc sống của ông không đến nỗi chật vật. Rất đông các nhân vật có thế lực trong chính quyền sở tại, các văn nhân, nghệ sĩ tên tuổi trong vùng thường đến làm khách tại nhà ông. Mang tinh thần bài Pháp cực đoan và nặng tình cố quốc, mỗi khi tiếp khách, ông vẫn khăn vấn áo the và nói chuyện với các “ông Tây” bằng... tiếng Việt, thông qua người phiên dịch tên là Trần Bình Thanh. Phải mất đúng một năm sau, khi nhận ra rằng người Pháp sở tại không hề “đáng ghét” như những người Pháp thực dân ở cố hương, nhà vua mới thay đổi quan niệm. Ông bắt đầu học tiếng Pháp, học văn hóa, đọc sách của “Tây dương”. Cần mẫn và thông minh, nhà vua tiến bộ rất nhanh. Vài năm sau, ông đã trở nên rất giỏi tiếng Pháp và tỏ ra là một người nghệ sĩ đa tài trong các lĩnh vực vẽ tranh, nặn tượng, từng tổ chức triển lãm cá nhân.

Hơn 15 năm sau ngày định cư tại Alger, tháng 11/1904, cựu hoàng mới lập gia đình. Ông cưới bà Marcelle Laloe (sinh năm 1884, người Pháp), con gái của ngài Chánh án Tòa án Alger. Thời gian không làm phai lạt nguồn gốc trong tâm trí cựu hoàng. Ngày cưới, chú rể vẫn khăn đóng áo dài.

Bà Laloe lần lượt sinh hạ cho ông 3 người con, đều mang tên Việt là Công chúa Như Mai, sinh năm 1905, Công chúa Như Lý, sinh năm 1908 và Hoàng tử Minh Đức, sinh năm 1910. Vị hoàng tử này đã chọn binh nghiệp làm sự nghiệp, từng tốt nghiệp Trường võ bị Sant Cyr năm 1935 và phục vụ trong quân đội Pháp suốt 10 năm sau đó.

Hai cô con gái Như Mai, Như Lý cũng được gửi sang Pháp ăn học trong nhiều năm. Công chúa Như Lý sau đó đã kết hôn với một quý tộc người Pháp, trở thành bà Bá tước De La Besse và theo chồng về sống tại lâu dài De La Nauche ở  làng Thonac thuộc vùng Vigeois. Ngoại trừ  những người trong gia đình, hầu như không mấy ai trong làng biết bà Bá tước De La Besse đã từng là một công chúa của đất nước An Nam xa xôi.

 Năm 1958, nhằm tránh mặt báo chí, dư luận và những người quen biết, bà Nam Phương đã rời bỏ thành Paris hoa lệ và ồn ào. Những cơ ngơi đồ sộ ở Neuilly, hàng tá căn nhà lớn ở Morocco, biệt thự hoành tráng trên đại lộ Opéra, Paris hay trang trại rộng lớn ở Congo đều không còn sức hấp dẫn để có thể níu giữ nổi bà. Nam Phương Hoàng hậu đã rời xa Paris 500km về phía nam, về làng Chabrignac  mua lại điền trang La Perche rộng 160 ha của một quý tộc Pháp đã sa sút làm nơi sống nốt những năm tháng còn lại

Làng Chabrignac thuộc tỉnh Corrèze, vùng Limousin, miền Tây Nam nước Pháp. Làng Chabrignac phong cảnh khá đẹp nhưng là nơi hẻo lánh, xa xôi, hầu như không mấy người biết đến. Đến giữa thập niên 60 của thế kỷ XX, những con đường ôtô chạy trong làng vẫn chưa được trải nhựa. Đến năm 2002, làng này cũng chỉ có 444 người. Gia đình Nam Phương hoàng hậu sống trong một ngôi nhà dài xây bằng đá, mái lợp ngói, có 32 phòng ngủ, 4 phòng khách, lưng dựa vào sườn đồi và trông ra một vùng đồng cỏ, đầm hồ rộng ngút tầm mắt. Ngoài hoa lợi thu được từ cây trái trong điền trang, bà hoàng Nam Phương còn nuôi thêm khoảng 100 con bò sữa. Tất cả những người con của bà đều sống với bà trong điền trang La Perche.

Theo Daniel Grande Clemént, tác giả cuốn “Bảo Đại, hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam” thì dường như thời gian sống tại điền trang La Perche là những tháng năm bình yên và hạnh phúc nhất của Nam Phương Hoàng hậu. Bà nuôi trong điền trang 4 công nhân nông nghiệp, một số người hầu gái và một viên quản gia người Pháp. Tất cả người ăn kẻ ở trong nhà đều được bà đối xử thân tình, gần gũi. Trong các dịp lễ, Noel hay ngày đầu năm mới, bà đều không quên có quà tặng cho họ và gia đình.

Rũ bỏ lớp áo vàng son quyền quý, bà Nam Phương quay lại sống đúng nghĩa cuộc đời an lành, bình dị của một phụ nữ An Nam học thức. Hàng ngày, bà dậy rất sớm, thường tự tay trang trí, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc cây cảnh. Vừa làm bà vừa khe khẽ hát. Khi có việc ra ngoài, bà thường tự tay lái chiếc xe hơi hiệu Dauphine, có thêm cô hầu gái hay người quản gia đi theo. Đối với bà, người quản gia này có một vị trí rất đặc biệt.

Nam Phương Hoàng hậu sống rất cởi mở, quản giao, thường xuyên đi thăm khắp điền trang để  gặp gỡ và trò chuyện thân mật với những người nông dân. Thế nhưng rất kỳ lạ, suốt 5 năm sống ở Chabrignac, bà vẫn không hề ghé thăm viếng lâu đài De La Nouche lấy một lần, dù hai điền trang nằm gần như cạnh nhau. Cả Công chúa Như Lý và Hoàng hậu Nam Phương đều có vẻ như không hề biết đến sự tồn tại của người kia trên cùng một vùng đất, dù trên quan hệ, Công chúa Như Lý là cô chồng của bà Nam Phương.

Tác giả Daniel  Grande Clemént phỏng đoán rằng, có lẽ sự ngăn cách của họ không nằm ở những dãy bờ rào mà nằm ở thiên kiến chính trị. Bà Công chúa Như Lý có khuynh hướng ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm, trong khi bà Hoàng hậu Nam Phương lại ghét cay ghét đắng chế độ này, bởi nó đã tước hết mọi quyền lợi của gia đình bà tại cố quốc.

Mộ phần của Nam Phương Hoàng hậu được đặt trong phần mộ của dòng họ Bá tước De La Besse. Bà Bá tước De La Besse, tức Công chúa Như Lý cũng có mặt trong dòng người đưa tang của làng Chabrignac, với nỗi ân hận vì trước đó hai người đã không hề có cơ hội gặp gỡ nhau. Ít lâu sau, Công chúa Như Lý đã lần lượt cải táng mộ Vua Hàm Nghi từ Alger về nghĩa trang này. Sau đó, Công chúa Như Mai, Hoàng tử Minh Đức cũng lần lượt được đưa về an táng tại làng Chabrignac, cách mộ của Nam Phương Hoàng hậu không xa lắm.

Năm 2000, Công chúa Như Lý đã xúc tiến việc cải táng Vua Hàm Nghi và các thành viên khác trong gia đình về an táng tại Huế. Nhưng việc chưa thực hiện thì đến năm 2005, bà cũng tạ thế. Làng Chabrignac xa xôi hẻo lánh và tươi đẹp ở miền Tây Nam nước Pháp, không định trước đã trở thành nơi an nghỉ của một bộ phận Hoàng tộc thuộc triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.

 9. Tình yêu thầm kín của người quản gia

 Lời đồn đoán  về tình yêu thầm lặng của viên quản gia – cựu đảng viên Cộng sản Pháp -  đối với bà Nam Phương Hoàng hậu có lẽ là hoàn toàn có cơ sở. Thay cho vị trí của cựu hoàng, ông này luôn tháp tùng bà trong những chuyến làm khách, dự tiếp tân đối với các gia đình quyền quý ở trong vùng. Không ai có bằng chứng xác đáng nhưng dường như những người quen biết trong vùng đều cho rằng, ông quản gia này đã yêu  Nam Phương Hoàng hậu. Còn bà thì quý ông vì ông này có khả năng xoa bóp, trị liệu rất điêu luyện giúp bà dịu bớt những cơn đau lưng nhức mỏi.

Sau khi mất, ông này đã được chôn cất ngay bên cạnh mộ phần của bà Nam Phương, tất nhiên là phải được bà đồng tình từ khi còn sống. Nơi đất khách, Nam Phương Hoàng hậu có vẻ như đã đoạn tuyệt hoàn toàn lễ giáo phong kiến để tán thành khuynh hướng dân chủ phóng khoáng. Vì thế, tuy đặt nằm cạnh nhau nhưng mộ phần của bà hoàng hậu thì bé nhỏ, khiêm nhường, trong khi mộ của người quản gia lại khá nặng nề và to lớn hơn nhiều!

  ( Nguồn : Tổng hợp )


Nhắn tin cho tác giả
Trịnh Thị Kim Loan @ 14:05 07/03/2017
Số lượt xem: 594
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến