Gốc > BÀI VIẾT > TIỀN GIANG > Bài viết >

HOÀNG THÁI HẬU TỪ DŨ

 Không cân quốc như Bà Trưng Bà Triệu, không kiếm cung tô điểm ơn hà, nhưng người phụ nữ Gò Công với tứ đức, tam tòng đã nêu cao gương hiền đức của ngời phụ nữ Việt Nam, công dung ngôn hạnh tỏ soi hậu thế. Nhà cầm quyền Quốc gia Việt Nam độc lập tân tiến mượn tên bà đặt cho nhà bảo sanh lớn nhất Việt Nam, dẫu vô tình hay có ý thức, đã làm một việc rất có ý nghĩa: từ xưa tới nay, người Phụ nữ có thể là vương tướng, là luật sư, tiến sĩ, bác sĩ,..song những tước ấy không quý báu bằng thiên chức làm MẸ, làm đấng TỪ MẪU đào tạo nền vĩ nhân cho đất nước
Quốc mẫu phước đức hiển minh

Hoàng thái hậu Từ Dũ tên thật là Phạm Thị Hằng, mẹ vua Tự Đức, người ở Tân Hoà (Gia Định xưa) là một phụ nữ hiền đức, nổi tiếng cần kiệm.

Năm bà 14 tuổi, Thuận Thiên Cao hoàng hậu nghe tiếng hiền, tuyển vào cung, hầu Hiến tổ (vua Thiệu Trị). Khi Hiến tổ lên ngôi, bà được phong làm Cung tân. Năm thứ 3, được phong làm Thành phi, năm thứ 6, được phong làm Quí phi. Bà được vua rất yêu quý do tính cẩn trọng, thông minh, ăn nói dịu dàng, nết na đức hạnh, tận tâm dạy dỗ các hoàng tử, hoàng nữ .

Do tài năng đức độ, bà được giao giữ chức Thượng Nghi, đứng đầu cai quản "lục thương". Tuy được vua sùng ái, cuộc sống vật chất đầy đủ, mọi người trọng vọng, nhưng bà rất cần kiệm, không ăn mặc xa hoa, không tiêu pha phung phí. Bà thường nói với các cung phi thân cận rằng: "Còn nhớ lúc nhỏ, gia tư chưa thừa thãi, dầu thắp đèn không đủ suốt đêm. Nay nhờ trời, được sung sướng, nhưng tất cả đều là mồ hôi của dân. Nếu lãng phí đã không ích gì mà lại đáng tiếc, sao bằng lưu lại để Nhà nước dùng". Hậu lại nói "những lụa là gấm vóc, châu ngọc được ban tặng, đều giao chứa vào kho chưa từng dùng đến. Bởi vì tính ta không thích hoa lệ".
Vua vào trong cung, thấy đồ dùng có quạt giấy nan tre đã sờn rách, bát ăn cơm có vết rạn, sai người hầu đổi cái khác, hậu không cho đổi. Lại có cái túi đựng hạt thuỷ tinh xoa mắt đã cũ, vua cho đổi cái túi mới khác. Hậu dụ rằng: "Cái hạt thuỷ tinh xoa mắt chỉ hơi mát thôi, không công hiệu lắm. Nếu đổi cái mới để lâu nó cũng cũ đi, vậy thì cứ để lại cái cũ".

Tính hậu ghét xa xỉ. Có lần công chúa thứ 9 bị bệnh lên đậu, hậu thương cho hai lạng vàng, lại còn xin thêm. Hậu dụ rằng: "Thấy nghèo cũng thương, nhưng xa xỉ lại ghét. Người được bổng lộc cũng như người khác mà không cần kiệm, chuyên xa xỉ thì sao đủ được. Dẫu ban cho mãi cũng không sao đủ được. Vả lại hoàng thân công chúa rất nhiều, lẽ nào đối xử khác nhau, cho nên chỉ cho thế".

Hậu có tính quí động vật, thường răn vua bớt đi săn bắn. Những chim dâng vào có con bị thương nhẹ bèn sai lấy thuốc chữa cho chim. Hiên đông cung Gia Thọ có đàn kiến trú ở đó để tránh mưa, người hầu quét không hết kiến muốn lấy nước sôi đổ vào, hậu trông thấy lập tức bắt đình chỉ, rồi tìm cách khác để xua đàn kiến đi mà không cho chết con nào.

Hậu thường để ý đến việc nước. Mỗi khi nghe nói quan lại tham nhũng, hậu than: "Cửa vua xa vạn dặm, tham lam thành thói quen, việc đến tai vua nghìn điều không được một điều, thế mà muốn thời vụ thuận hoà, mùa màng tốt tươi, dân yên, trộm cướp hết, sao có thể được?".

Hậu dẫu ở thâm cung, thường lo âu đến cuộc sống của dân. Nghe tin nơi nào có giặc hoặc có tai hoạ gì thì đau đáu không vui. Việc nhà nông luôn để tâm hỏi han việc được màu, mất mùa. Hạn thì cầu mưa, lụt thì cầu tạnh.

Năm Thành Thái thứ 13, Hậu mất thọ 93 tuổi. Gương đạo đức cần kiệm của hậu làm gương soi cho hậu thế, các lời dạy của hậu được ghi trong "Từ huấn lục". Thật là một "mẫu nghi thiên hạ" đáng kính.

*************Bà là người con gái đất Gò Công, lúc ban đầu vào Huế làm cung nữ hầu vua Thiệu Trị. Nhà vua ngự giá Bắc tuần, nàng theo giúp việc hàn mặc, nổi tiếng thông minh và linh hoạt. Sau đó nàng được phong cấp lên Hoàng hậu, rồi Hoàng thái hậu, sau cùng là Thái Hoàng Thái hậu. Nghe nói bà Từ Dũ còn là người đưa giống cá thát lát từ quê nhà ở Nam bộ ra gây giống ở thành phố Huế; cá sinh sôi đến ngày nay đầy hồ đầy sông.

Ở Huế bà nổi tiếng là một bà thái hậu rất thương dân. Hằng năm đến lễ mừng thăng cấp, mừng thọ của bà, bà đều tìm cách thoái thác hoặc trì hoãn, thực chất là sợ khổ dân. Triều đình Huế mỗi khi phải lo liệu việc cho bà đều lấy làm e ngại, vì rất khó thuyết phục bà. Tục truyền rằng một lần bà xem diễn tuồng hát bội tại Duyệt Thị Đường. Sau vở diễn, bà cho gọi đội trưởng đội Võ Can, mặt hầm hầm sắc giận:

-Ông tướng trong ấy có đủ tài đủ phép, muốn làm gì thì làm, cớ chi còn bắt Phàn Lê Huê phải "tru huynh diệt phụ". Đó là đại tội bất hiếu bất đễ, ông không biết sao?

Viên đội trưởng sợ quá, thanh minh:

-Dạ bẩm, đó là bản tuồng do người Tàu viết ra. Họ viết sao, con cứ thế đem diễn lại.

-Người Tàu khác, người mình khác. Những chuyện đại nghịch như vậy, lần sau cấm diễn trên sân khấu.

Thái hậu bèn truyền lấy bản chính của vở tuồng chuyển cho vua Tự Đức đọc để chữa lại những chỗ trái đạo. Vua Tự Đức lo xa, bèn cho thu hồi hết mọi bản tuồng lưu hành trong dân gian về sửa chữa cẩn thận trước khi phân phối lại bản thảo cho các đoàn tuồng không biết, vẫn cứ tiếp tục diễn những kịch bản chưa được vua phê duyệt. Vì thế trong giới hát tuồng mới nảy sinh vấn đề phân biệt "Bản Kinh" và "Bản Tuồng" như ta đã biết. Dù sao, tên tuổi của Thái hậu Từ Dũ vẫn nổi lên như một gương sáng "bảo vệ văn hoá dân tộc", dẫu phải chống lại thứ văn hoá của một lân quốc mà từ trước đến nay các vua chúa ta đều chịu ảnh hưởng.
Hồi ấy người Pháp cho bắc lại cây cầu Trường Tiền bằng sắt và bắt dân phải nộp thêm thuế, nói là lấy kinh phí làm cầu. Bà Từ Dũ tự nguyện thay mặt cho dân viết một lá đơn xin quan Tây miễn thuế. Viên khâm sứ Pháp lúc bấy giờ muốn chứng tỏ là ta cũng làu thông tiếng Việt, bèn phê vào đơn bằng mấy câu vè, đại thể:

...Ngày xưa vua Việt cầm quyền

Sao không bắc lấy cầu Trường Tiền mà qua?

Trách Tây hay đặt phép ra

Cầu Trường Tiền Tây Bắc, tây không qua một mình...

Trước đây, dân Huế có lưu hành bài vè "Bà Từ Dũ xin thuế cho dân". Nhân đức của bà đã đi vào lòng người là vậy. Còn thành phố Sài Gòn- một thành phố nhượng địa của Pháp, cũng có một nhà hộ sinh lớn mang tên bà; ở Gò Công thì lại có "khu lăng mộ Hoàng gia", gồm có mộ của ông Phạm Đăng Hưng là thân sinh của bà và nhà thờ họ Phạm, tức là họ của bà Từ Dũ. Tôi có đến thắp hương tại khu lăng mộ Hoàng gia ở Gò Công Đông, thấy hầu hết các em gái đều mặc áo dài trắng, còn lại là đồng phục chỉnh tề chắc là học sinh của một nhà trường nào đó cũng đến thắp hương. Lòng tôi dạt dào niềm biết ơn Thái hậu Từ Dũ, người con gái quê Nam Bộ, lại ra tận Huế làm dâu, dám quên mình là bậc "mẫu nghi thiên hạ", cúi mình đi xin thuế cho dân. Chỉ việc đó, thiết tưởng Thái hậu Từ Dũ cũng đáng được ghi tạc vào tượng đồng bia đá, lưu một tiếng thơm là "gái nước Việt" để lại cho muôn đời sau.
Huế nguyên xưa là đất kinh đô nước Việt, nên những người tài giỏi trong nước tập trung về đấy nhiều lắm; chỉ nói riêng về danh nhân phái nam đáng dựng tượng cũng không kể xiết. Dĩ nhiên không thể nào thiếu tượng của vua Quang Trung, của Hồ Chủ tịch và cụ Phan Bội Châu. Nhưng ở đây chỉ bàn về tượng của phái nữ trong năm nhân vật tiêu biểu nhất đã từng dựng nghiệp trên đất Huế.

Ôi! một dòng sông như sông Hương mà không có những tượng đài, khác chi một con người đã quên mất gốc rễ, một thành phố không có ký ức...

                                                     (Theo vietmaisau.com)

 


Nhắn tin cho tác giả
Trịnh Thị Kim Loan @ 14:02 07/03/2017
Số lượt xem: 952
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến