Gốc > BÀI VIẾT > TIỀN GIANG > Nhân vật >
Trịnh Thị Kim Loan @ 09:24 30/08/2016
Số lượt xem: 2100
HỌA SĨ NGUYỄN SÁNG (1923-1988)
Học Trường Mỹ nghệ Gia Định, khóa 1938 - 1940
Nguyễn Sáng là một trong số không nhiều người từ Nam Bộ ra Hà Nội học trong thời kỳ từ 1925 đến 1945 như Lưu Đình Khải (ở Long An niên khoá 1928 – 1933), Lê Văn Đệ (ở Bến Tre niên khoá 1925 – 1930), Nguyễn Văn Long (ở Chợ Lớn niên khoá 1924 – 1934), Nguyễn Văn Anh (ở Sài Gòn niên khoá 1930 – 1935) và Lê Văn Mậu, Nguyễn Siên, Diệp Minh Châu, Huỳnh Văn Thuận...
Mãn các khoá đào tạo, lần lượt các hoạ sỹ ở miền Nam trở lại quê hương, nhất là thời kỳ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám nhưng Nguyễn Sáng nhất quyết không trở về miền Nam mà tình nguyện ở lại miền Bắc trong sự ngạc nhiên của các bạn bè. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra trên cả nước, hoạ sỹ Nguyễn Sáng có mặt trong đoàn người cướp chính quyền ở Phủ Khâm Sai. Sau đó như là một hoạ sỹ của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ông tham gia hầu hết các công việc thiết thực nhất phục vụ cho cách mạng từ vẽ tranh, tuyên truyền cổ động cho cách mạng, vẽ tranh tham gia triển lãm mỹ thuật chào mừng Quốc khánh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, rồi vẽ giấy bạc cho Bộ Tài chính của Chính phủ lâm thời vừa ra đời. Sau đó Nguyễn Sáng ra chiến khu Việt Bắc ở Tuyên Quang vẽ mẫu giấy bạc, từ năm 1948 – 1951 ông công tác tại Xưởng tranh phổ biến Bộ Thông tin Truyền thông đóng ở Yên Giã - Đại Từ - Thái Nguyên. Từ năm 1951 đến 1952, ông cũng tham gia chiến dịch Cao - Bắc - Lạng và đi vẽ ở biên giới Việt Trung cùng với hoạ sỹ Nguyễn Tư Nghiêm, sau ông về Tổng cục Chính trị làm tranh khắc gỗ in màu với nhiều đề tài như “Chiến dịch Cao Bắc Lạng”, “Tình dân quân”... Nhiều tranh khắc gỗ màu và tranh sơn mài nhỏ của ông và Nguyễn Tư Nghiêm được sáng tác trong dịp này.
Sau khi dự chỉnh huấn chính trị năm 1952 cho văn nghệ sỹ tại Việt Bắc, năm 1953 – 1954, ông tham gia cải cách ruộng đất rồi đi chiến dịch Điện Biên Phủ cùng với nhiều hoạ sỹ khác như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Sĩ Ngọc, Nguyễn Quang Phòng, nhờ đó về Hà Nội ông đã có đề tài thực hiện một loạt tranh sơn mài về đề tài bộ đội trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, Cao Bắc Lạng...
Từ năm 1954 đếm 1986, ông sống và làm việc ở Hà Nội. Năm 1987 ông trở về sống cùng gia đình ở Tp. Hồ Chí Minh, ở đây ông thực hiện một số tác phẩm cuối đời và mất ngày 16 tháng 12 năm 1988.
Nguyễn Sáng, Giặc đốt làng tôi, 1954, sơn dầu, 80 x 130cm, Bt. MTVN
Nhìn qua lược sử quá trình hoạt động của hoạ sỹ Nguyễn Sáng, cũng không có gì khác biệt với bao nhiêu hoạ sỹ cách mạng khác, chỉ khác chăng ông là người miền Nam. Nguyễn Sáng là con trong một gia đình cũng sàng sàng bậc trung, cũng hàng khá lúc bấy giờ, đâu phải sợ khổ mà bỏ quê nhà và cũng không vì sợ kháng chiến ở miền Nam vì ông ở miền Bắc cũng tham gia kháng chiến và cũng không phải dính líu đến tình thê tử vì suốt đời ông vẫn không có đường vợ con đàng hoàng hạnh phúc, vả lại ông cũng không phải loại “phong lưu tài tử trai gái lăng nhăng”. Thế thì tại sao ông chấp nhận ở lại miền Bắc, gần như suốt trong cả cuộc đời như thế, chỉ còn lại những ngày cuối đời ông mới trở lại quê nhà vẽ vài tác phẩm để rồi chết. Đúng là chỉ có vì nghệ thuật mà từ năm 14, 15 tuổi ông đã vào học Trường Vẽ Gia Định và chỉ 17 tuổi đầu đã dám ra Hà Nội một thân một mình để học và nên nhớ rằng những năm 30 – 40 của thế kỷ trước môi trường dân trí, văn hoá xã hội xứ An Nam rất thấp, riêng về mỹ thuật thì vô cùng xa lạ với văn hoá đại chúng. Tất nhiên, với Nam Bộ là vùng đất mới thì văn hoá truyền thống lại càng hiếm hoi, những đình, chùa, miếu, mạo được xây dựng do những người di dân từ miền Trung, miền Bắc và người Hoa thời Mạc Cửu1, cùng với văn hoá Kh’me và các công trình theo phong cách Pháp tạo thành, hầu hết đều bị tam sao thất bản. Nói chung là môi trường thẩm mỹ xã hội đã rất hiếm hoi, vừa lai tạp, không thuần khiết, vừa bị thị trường thương mại phát triển ngày càng mạnh hơn, những sản phẩm văn hoá nghệ thuật nhất là thẩm mỹ mang nặng tính thị hiếu, thị dân như màu sắc loè loẹt, đường nét bay bướm, sắc điệu thường phô trương những nét bay bướm, sắc điệu thường phô trương những mốt thời thượng thường là bịt răng vàng, mang đồng hồ vàng, đầu chải 7/3 sáng brillantine, đầu đội nón flechet, áo quần bóng lộn thường bằng vải satin, lanh, đũi, tisor... và các trường Mỹ thuật ở miền Nam cũng không thoát khỏi chịu ảnh hưởng của những thị hiếu đó và ít nhiều các hoạ sỹ thời bấy giờ đều chịu ảnh hưởng thị hiếu thẩm mỹ gọi là rẻ tiền đó, nét vẽ bay bướm, lả lướt như rồng bay phượng múa, màu sắc tươi tắn, mượt mà, nịnh mắt hoặc tính lãng mạn theo như các tranh sơn thuỷ hữu tình, cái xu hướng thị hiếu thẩm mỹ mà anh em trong nghề thường gọi là “cải lương” đó ít nhiều đã nhiễm vào tâm hồn tình cảm, thị hiếu, tâm lý, thẩm mỹ của người dân miền Nam trong đó có không ít hoạ sỹ.
Trên con đường đi tìm nghệ thuật, tìm chân giá trị của thẩm mỹ, Nguyễn Sáng đã sớm nhận thức điều đó, nhất là khi ra đến Hà Nội trong môi trường nghệ thuật cổ, truyền thống còn đậm nét từ nhà phố đến các đình chùa, làng mạc, còn mang nhiều sắc thái dân tộc và đi sâu vào các tranh tượng dân gian, các hoa văn trên các hoành phi, câu đối, bia đá, đền thờ các đời Đinh – Lê – Lý - Trần ở đâu cũng hiện lên những sắc thái dân tộc thật đậm nét. Với những người tân kỳ ra Hà Nội thường thấy Hà Nội như là cái gì cổ lỗ, nhưng những nhà văn hoá đích thực thì họ thấy Hà Nội là một thành phố cổ kính. Chính vì thế mà Nguyễn Sáng đã tìm thấy Hà Nội là điểm đến của mình cho con đường nghệ thuật. Càng đi sâu vào các di sản văn hoá nghệ thuật ấy, Nguyễn Sáng bị cuốn hút, bị thâm nhập như hồn rời khỏi xác lâu ngày và được nhập lại, và hồn đã tìm thấy xác của mình. Nguyễn Sáng hay nói đùa với bạn bè: “Tớ là người Bắc Kỳ hơn cả Bắc Kỳ” – ý nói chơi nhưng nghĩa là đúng vậy. Đối với người miền Bắc thì các cây đa, mái đình, chuyện đó không có gì quan tâm đến với họ lắm, vì nó như là môi trường sống hàng ngày rồi. Còn đối với Nguyễn Sáng là cái mà ông mới tìm lại được, các xúc cảm mạnh hơn nhiều, và lại cũng có chủ đích đi tìm kiếm, khám phá rất mãnh liệt là nghệ thuật? Cái gốc rễ của văn hoá nghệ thuật hơn nữa suốt quá trình học Trường Mỹ thuật Đông Dương kể cả thời hoạ sỹ ở Gia Định với phương pháp giáo khoa của Pháp lúc bấy giờ là khoa học, học mỹ thuật không phải là luyện bản năng hay cảm tính mà các thành tố trong thẩm mỹ, nghệ thuật đều có nét khoa học phân tích, nhận thức và thực hành của nó như vẽ hình từ đường nét, hình khối, màu sắc, ánh sáng, bố cục, chất liệu... đều có những quy luật, quy tắc khoa học nhất định như tỷ lệ, nhịp điệu, cân bằng, kiến trúc, sự hài hoà, nào là cơ thể học (anatomie artistic), luật cận viễn (perspective)... Tuy rằng phương pháp đào tạo nghệ thuật theo phương pháp khoa học này, kể cả phương pháp học vẽ tả thực theo mắt thấy như thời Phục Hưng, nhiều lần Nguyễn Sáng cũng phản ứng và cho rằng học như vậy không phải học nghệ thuật. Tuy rằng môn hình hoạ của ông là vững nhất. Dù phản ứng do bản năng cá tính thẩm mỹ của ông, nhưng những phương pháp giáo khoa, khoa học đó cũng giúp ông không ít trong cách nhìn nhận nghiên cứu, phân tích các vốn cổ dân tộc, các tranh tượng dân gian một cách khoa học và nhạy bén hơn nhiều so với cảm nhận, cảm tính. Từ đó ông phát hiện thêm nhiều hơn về giá trị nghệ thuật trong tranh tượng dân gian, nhất là đặc điểm trong tính tạo hình của tranh dân gian với cấu trúc nhịp điệu của đường nét. Phân tích sự khác nhau của hình vẽ (dessin), hình ảnh và hình dạng (forme), so sánh không gian ước lệ của tính dân gian. Với viễn cận tẩu mã, với khoa học viễn cận Tây học. Rồi sự khác biệt, sự hợp lý của bảng màu bảy sắc cầu vồng với sự hoà hợp của nó so với màu sắc trong tính dân gian... và với sự hài hoà ước lệ của nó, cái sự khác biệt giữa nghệ thuật dân gian phương Đông với nghệ thuật bác học phương Tây, về quy luật, về hiệu quả thẩm mỹ, về giá trị nghệ thuật và các sắc thái khác nhau đó, cái nào quyết định cho chân giá trị của thẩm mỹ. Điều này đối với Nguyễn Sáng chắc chắn là những dấu hỏi lớn trong bước đường dấn thân của ông đi tìm nghệ thuật. Tất nhiên, Nguyễn Sáng là một hoạ sỹ, không phải là nhà lý luận hay nghiên cứu do đó ông phải trả lời nó bằng trên tác phẩm của mình. Trên toàn bộ tác phẩm của ông ta thấy gì? Không thấy ông sùng cổ từ hình ảnh, các hoạ tiết, kể cả các kiểu thức của các đình chùa hoa văn cổ, không thấy ông tận dụng đưa nó vào tranh để gợi sắc thái dân tộc Việt như rất nhiều hoạ sỹ vẽ về miền Bắc hoặc Hà Nội như nhà phố, làng xã, ngõ xóm... Ông đề cao và rất quý trọng tự hào tranh tượng dân gian nhưng cũng không thấy ông vận dụng vào tranh của ông. Nhìn tranh của ông, dù mèo hay người, hay kháng chiến, ta thấy có âm hưởng tranh dân gian Việt Nam rất rõ – như nét to, mảng bẹt, cách bôi màu như ngây ngô vụng về không khéo tay, tạo hình dạng (form) rất chắt lọc, rất chắc khỏe, không gian ít dùng luật phối cảnh mà dùng không gian ước lệ, dùng mảng hình và khoảng trống tạo không gian ước lệ trong tranh. Tất cả những nguyên tố tạo hình đó đều có trong tranh dân gian và nghệ thuật Á Đông, do đó tranh ông nhìn vào thì thấy sắc thái Á Đông ngay không chối cãi được, nhưng không ngô nghê, vụng về chút nào mà phẩm chất tranh dân gian thường có, ngược lại rất hiện đại, rất bác học.

Nguyễn Sáng, Giờ học tập, 1960, sơn mài, 80 x 120cm, Bt. MTVN

Nguyễn Sáng, Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ, 1963, sơn mài, 120 x 180cm, Bt. MTVN
Đây là hai nhân tố của nghệ thuật dân gian truyền thống, và nghệ thuật bác học cũng đã rút được những nguyên tố, những nguyên lý tinh tuý nhất của nó cùng với trí thức bản lĩnh, cá tính của ông đưa vào bao tác phẩm, bao thử nghiệm trên các chất liệu khác nhau như sơn dầu, sơn mài, khắc gỗ, lụa... để nó trở thành phong cách của Nguyễn Sáng. Thái độ trải nghiệm trăn trở trong suốt cuộc đời nghệ thuật của ông thấy rõ thái độ đối với nghệ thuật rất đặc biệt. Ông rất mê mà không si nghệ thuật dân gian, ông rất chối mà không bỏ cách dạy vẽ theo phương pháp giáo khoa các thầy Tây là chép thực, tả thực đúng quy pháp quy phạm, cho nó là không phải dạy nghệ thuật, không cho sáng tạo...
Những yếu tố nào giúp cho chân giá trị nghệ thuật thì ông tìm đến và chấp nhận trả giá như con đường tìm đến Trường Mỹ thuật Đông Dương, đi đến Hà Nội - thủ đô ngàn năm văn hiến để tìm đến cội nguồn và khi nền văn hoá thời vận của dân tộc đòi hỏi xương máu để đòi lại độc lập tự chủ thì ông không ngại ngần gì để dâng hiến. Vì nghệ sỹ như ông hơn ai hết văn hoá nghệ thuật của một dân tộc làm sao có được và trọn vẹn để phát triển nếu dân tộc đó không được độc lập tự do, con đường tham gia cách mạng và giải phóng dân tộc là con đường dấn thân của ông vì chính nghệ thuật vậy. Tôi nghĩ ông vẽ những tranh về kháng chiến như Nghỉ chân, Giặc đốt làng tôi, Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ, Trú mưa, Tình dân quân... không phải với ý nghĩa là đem nghệ thuật phục vụ cho kháng chiến, cho cách mạng, cho nhân dân như khái niệm mà người ta thường nói về chức năng của nghệ thuật, mà nó là một sản phẩm văn hoá tinh thần thực sự của cuộc cách mạng của dân tộc, ta được cả cuộc sống cách mạng và tâm hồn dân tộc của ta tạo ra tài năng và con tim của Nguyễn Sáng. Hơn nữa cách mạng chính trị (giải phóng dân tộc) trong đó bao hàm cả cách mạng về văn hoá tư tưởng nữa. Đó là một sự thật mà hiệu quả của nó khá rõ ràng trong quá trình cách mạng giải phóng dân tộc về văn hoá nghệ thuật nước ta từ chủ nghĩa lãng mạn đã chấm dứt, trong thơ văn cũng như trong nghệ thuật hiện đại cùng với tính thời đại của đất nước.
Đấy là đạo lộ để đi đến nghệ thuật của họa sỹ Nguyễn Sáng tức văn hoá nghệ thuật truyền thống, khoa giáo nghệ thuật phương Tây, cách mạng dành độc lập dân tộc trên đạo lộ này không phải riêng Nguyễn Sáng mà hầu hết văn nghệ sỹ cách mạng Việt Nam đều hành hương đi qua đến đích nghệ thuật. Nhưng khác nhau là sự cảm thụ, hấp thu, chấp nhận, loại bỏ cái gì đều tuỳ do bản ngã, bản lĩnh và sự chấp nhận, thách thức của mỗi người. Có người tốt nghiệp trường Tây ra là hiệu trưởng, nhà giáo vì hấp thụ được khoa giáo bài bản khoa học, có người là nghệ sỹ thuần tuý và theo xu hướng dân tộc truyền thống. Cùng đi cách mạng nhưng có người thành đạt làm lãnh đạo, có chức phận, có bổng lộc, chức sắc, muôn ngàn nẻo đường tiến thân. Nguyễn Sáng không được một nẻo nào trong muôn nẻo đường đó. Không giảng dạy, không chức sắc, không và không. Có điều không hề thấy ông ganh tỵ gì với ai, với bạn bè đồng đội, đồng chí, không tranh chấp, không so bì, không bất mãn, không kiêu ngạo và cũng không buồn phiền, chặng đường này không phải là ngắn, ông chấp nhận nó bình thường như một người dân bình thường từ 1955 – 1975 và đến ngày mất.
Nguyễn Sáng, Thiếu nữ bên hoa sen, 1972, sơn dầu, 80 x 130cm, Bt. MTVN

Nguyễn Sáng, Mèo, sơn mài
Vì sao vậy? Vì cái gì mà ông chịu đựng nổi với những nghịch cảnh không khó thấy đó. Vâng vì nghệ thuật! Vì con đường nghệ thuật mà ông chọn lựa, ông sáng tạo nên, ông cho là đúng, là chân giá trị của ông thời bấy giờ dù xung quanh không hiểu, không chấp nhận xa lánh cách ly một cách tế nhị nào đó. Ông không vì những tác động ngoại giới đó mà nao núng thay đổi hoặc kiêu ngạo, chửi bới, hoặc buồn phiền. Đơn giản ông đóng cửa hạn chế giao lưu để giữ tính độc lập sáng tạo cho mình.
Làm nghệ thuật cũng lắm nẻo đường, làm nghệ sỹ cũng lắm hạng kiểu. Trong xã hội chiều theo thị hiếu sở thích của số đông dù nó không đem lại lợi ích giá trị gì cho xã hội, thậm chí còn tác hại, thì họ vẫn tồn tại tốt hơn, nhất là xã hội mà dân trí còn thấp, sự phán xét của quần chúng số đông còn hạn chế thì những người theo thị hiếu tầm thường dễ sống hơn là ai khác lạ hơn, làm khó chịu cho cái trình độ và thị hiếu phổ thông của họ thì họ đố kỵ, xa lánh, thậm chí dè bỉu.
Thế nhưng, quy luật phát triển của nghệ thuật đích thực là phải sáng tạo, sáng tạo thì phải mới lạ vì quần chúng xã hội chưa quen mắt... thì nghệ sỹ phải chấp nhận trả giá và thử thách, kể cả về kinh tế, danh giá, địa vị xã hội, thậm chí người ta cho là khùng điên. Đã dấn thân là phải biết trước điều đó. Nguyễn Sáng không bất ngờ và chấp nhận trả giá, muốn vậy trong ông phải thật trong sáng không mơ màng một chút vụ lợi nào – Sự trong sáng tuyệt đối ngay cả cái bản thân ông ăn, mặc, ở thế nào? Ông hầu như không để ý đen, rất xuềnh xoàng, xộc xệch, bản thân ông không ra gì mà bản ngã thì vững chãi như tượng đồng, vách đá, không gì làm ông chuyển động được - Chỉ có nghệ thuật – vì nghệ thuật. Có người hay nói lý luận nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh. Cuộc đời dấn thân dành cho nghệ thuật của Nguyễn Sáng là một đáp số cũng giúp cho ta thấy con đường dấn thân cho nghệ thuật thực sự khó khăn và chấp nhận sự trả giá như thế nào?.
Quách Phong
Trịnh Thị Kim Loan @ 09:24 30/08/2016
Số lượt xem: 2100
Số lượt thích:
0 người
 
- TRỪ VĂN THỐ (30/08/16)
- LIỆT SĨ THANH NIÊN XUNG PHONG : NGUYỄN VĂN HẬU (30/08/16)
- Đoàn Thị Nghiệp (30/08/16)
- Nguyễn Văn Nguyễn (30/08/16)
- Dương Văn Minh (30/08/16)


Các ý kiến mới nhất